Viet A+

Vietnam Architecture Plus

Urban Planning and Urban Land for Specific Regions in Vietnam

(Sustainable National Land Policy of Asian Countries responding to Long term Impacts, Tokyo-Japan, 2004)

September 30, 2008 Posted by akinmh | presentation, research | | No Comments Yet

Improving The Living Conditions of A Low- Income Community: Focus on Sanitary Management in Hoan Kiem District- Hanoi, Vietnam

By Dao Thu Ha

(Published in Asian Institute of Technology- Thailand, 2004)

Abstract

Hanoi is the second largest city in Vietnam with a rich cultural heritage reflecting nearly 1000 years of history. With a large population, the living condition in central Hanoi particularly is seriously deteriorating. Sanitation management is one of the key issues for improving the living condition of Hanoi’s center, the ‘36 Old Street Quarter’, location in HoanKiem district, which is one of the most populated districts of the city. Rapid urbanization process through the increase of commercial and tourism industries have made sanitation environment as big problem in this central part of the city. The purpose of this study has been to contribute to improve the living condition for enhancing quality of life of the study area. With this in view, the primary data was collected through questionnaire survey of sampled residents, field observation and interview with the officials of local government. The necessary secondary data were also collected. SPSS software was used as the main tool for analyzing the data. To achieve the research objectives, the field work was conducted in 10 phuongs of HoanKiem district with a total questionnaire survey of 70 households.

Main findings of the research reveal two aspects of sanitary condition. Firstly, on the indoor hygiene side, it is found that households are currently using double-latrine and pit latrine, both of which are inappropriate for this high population density of Ancient Quarter. Leaked water is increasing sanitary woes in their houses, especially, in surrounding areas seriously the water taps and low-land areas attract mosquitoes and other dangerous insects that affects human health of the community. On the outdoor hygiene side, it is found that the existing drainage system is not separated from the sewage line causing of mud and sludge. The findings on policy show that investment capability of local household for improvement the sanitation is there but the State, HPC and HoanKiem district authorities have no policy to make investment for improving sanitation quality.

Policy recommendations made to improve the conditions focus on the following aspects. First, for improving indoor sanitation, DTPWs and HASM should support the local people in planning and constructing a proper water supply system. About latrine use, double latrine should be replaced by septic tank toilet.  Household should be encouraged to move in this direction. Secondly, for improving outdoor sanitation, public toilet facility should be provided in each of the phuongs in the Ancient Quarter. These facilities should be integrated into the built form, accessible at street level and open from at least 6.am to 11.pm seven days a week or if possible 24 hours a day with proper supervision and regular cleaning each day and night. However, road drainage should be upgraded as part of improvements to physical infrastructure of the Ancient Quarter. Other recommendations drawn from the research include involving environmental NGOs, academic groups and government officials to raise the awareness of the city residents for giving care and attention to improve the environmental condition in the city in general and in respective neighborhood in particular.

September 30, 2008 Posted by akinmh | research | | No Comments Yet

A study on Urban & Architectural Conservation in Penang, Malaysia

(ar5756. completed in 2006)

Abstract

Georgetown of Penang, founded in 1786 by Captain Francis Light is famous with cultural diversity, old colonial buildings and traditional roofscapes mixed with new high-rise. The Town has been experienced ups and downs of political, socio-economic change last few centuries. Up to now, conservation of urban fabric and cultural heritage is the burning question of the day after UNESCO returned “the Historic centres of Malacca and Penang dossiers” in 2005. The aim of the research, thus, was to understand current conservation of Penang’s built heritage as well as to assess dossier of Penang historic center. Practically, analytical process, which relied on UNESCO criteria, implied many actual causes influenced the submitted application’s content. Therefore, to deal with these problems, appropriate measures are proposed to definitely tackle these problems in the revising dossier of Penang for the second submission.

Keywords: Penang’s built heritage, dossier of Penang historic centre, conservation

1

July 20, 2008 Posted by akinmh | research | , , , | No Comments Yet

The Chân Mây’s Design Concept

aaa1
(The National Project, completed in 2004)

July 18, 2008 Posted by akinmh | presentation, research | , | No Comments Yet

An industry planning model (small,medium-scale) towards sustainable development

Mô hình qui hoạch công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp hướng tới Phát triển bền vững

(Tạp chí QH, năm 2002)

Những năm qua phát triển ngành công nghiệp là một trong những Ngành được Đảng, Nhà nước và các Ban Ngành giành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt chính sách ưu đãi, khuyến khích và thu hút đầu tư cho lĩnh vực chiếm ưu thế thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chiến lược này được khẳng định trong qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tới năm 2010 như sau: “Mục tiêu lâu dài thực hiện CNH, HĐH từ nay cho đến năm 2010 là biến đổi nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hình thành nền kinh tế phát triển năng động, tự chủ, đủ sức cạnh tranh, hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam á và thế giới”. Trong đó, quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng lấy CNH-HĐH phải theo hướng xã hội chủ nghĩa, là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế; đồng thời lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho “phát triển nhanh và bền vững”.

Nhìn chung, phát triển ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) được qui định dựa trên cơ sở phân cấp quản lý (decentralisation) theo NĐ số 36/CP (24/4/1997); TT số 04 BXD/KTQH (30/7/1997) và số 08/TT-KHĐT (29/7/1997)..v.v. nhằm phát huy tối đa các nguồn lực từng vùng. Do đó, nhiều Tỉnh- Thành phố đã và đang tiến hành xây dựng qui hoạch phát triển CN-TTCN trước mắt cũng như lâu dài cho mình làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng “nội lực” bản thân hoà cùng xu thế phát triển chung của đất nước.

Yếu tố “Nội- Ngoại” lực của cụm CN-TTCN TP. Thái Nguyên

Thực tế cho thấy chủ trương này có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan từ các qui hoạch Ngành, qui hoạch tổng thế kinh tế- xã hội đến lập qui hoạch-dự án các khu- cụm CN-TTCN.v.v. gây nên. Hàng loạt các cụm CN-TTCN ra đời với hình thức “trăm hoa đua nở” cả về qui mô lẫn hình thức, trong đó không ít dự án mới chỉ tính toán đến hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi và sao nhãng đến lĩnh vực môi trường sinh thái- cảnh quan thiên nhiên. Hậu quả là các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn và chất thải công nghiệp, đặc biệt là phải kể đến hiện tượng “nóng cục bộ” (heat island) trong các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng gây mất cân bằng sinh thái, huỷ hoại môi trường ngày càng nghiêm trọng và điều chắc chắn là rất khó có thể khôi phục lại những gì đã mất. Câu hỏi đặt ra (?) : Liệu cái “được” từ cụm CN-TTCN so với cái “mất” của môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên thì cái nào lớn hơn?. Nên chăng, chúng ta cần phải xem xét vấn đề này khi còn trong giai đoạn nghiên cứu lập dự án qui hoạch? hơn hết vẫn là: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Khai thác cụm CN-TTCN hiệu quả và bảo vệ môi trường chính là những thành phần chính yếu trong mô hình qui hoạch cụm CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững, đồng thời là giải pháp toàn diện cho môi trường xã hội “xanh, sạch, đẹp” và nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị-nông thôn, phát triển dài lâu. Do vậy, một minh hoạ cụ thể cho xu hướng này bước đầu được nghiên cứu thông qua dự án qui hoạch cụm CN-TTCN tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và đã được phê duyệt theo QĐ số 2850/QĐ-UB của UBND Tỉnh Thái Nguyên ngày 23/9/2002.

Như chúng ta đã biết, quy hoạch chung xây dựng thành phố Thái nguyên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 802/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1996 đã xác định: “…là Tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là thành phố công nghiệp, là trung tâm của vùng Việt Bắc, đầu mối giao thông của các tỉnh miền núi phía Bắc và có vị trí chiến lược về an ninh và quốc phòng…”. Kể từ đó đến nay, thành phố Thái Nguyên đã phát huy nội lực, tập trung thúc đẩy phát triển mọi nguồn lực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Năm 2001, tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,8%, GDP chiếm 71,4%, công nghiệp và XDCB chiếm 46%, dịch vụ 45,2%, nông-lâm nghiệp chiếm 8,8%. Vừa qua, những nỗ lực ấy lại được khẳng định khi thành phố Thái Nguyên chính thức đuợc công nhận là đô thị loại II đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Thành phố (19/10/1962- 19/10/2002).

Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên

Cụm CN-TTCN thực hiện trước những đòi hỏi và thách thức của quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh ở khu vực thành thị, ngoài những mặt tích cực thì mặt trái là những vấn đề tiêu cực về ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, an ninh- xã hội phức tạp bởi sự phát triển tự phát, phân tán của các ngành-nghề và dân cư…Hơn nữa hoạt động CN-TTCN của thành phố Thái Nguyên có qui mô sản xuất nhỏ, thiết bị công nghệ “già cỗi” và hiệu quả chưa cao. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội nghị lần thứ XIV của Đảng bộ Tỉnh Thái Nguyên đã xác định trong 5 năm 2001-2005 là: “Phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng Thành phố giàu về kinh tế…” nên nhu cầu thiết yếu của thành phố về hình thành xây dựng các cụm CN-TTCN trên địa bàn được đặt ra nhằm thu hút đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp được khuyến khích làm chuyển biến tích cực nền kinh tế đồng thời làm phong phú thêm các loại hình công nghiệp, kiến trúc và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.

Cụm CN-TTCN này có qui mô vừa, bao gồm các ngành nghề phụ trợ cho CN luyện kim và cơ khí, chế tạo động cơ, SX hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm sản và hơn nữa“sản phẩm sản xuất ra sẽ thay thế hàng nhập khẩu, phần lớn sẽ phục vụ cho sự phát triển của khu vực và xuất khẩu hàng công nghiệp có ưu thế cạnh tranh”. Bên cạnh đó, việc xác định các loại hình CN trong cụm CN-TTCN luôn tuân thủ và bám sát thông tư số 08/TT-KHĐT (29/7/1997) của Bộ Công nghiệp và quyết định số 5207/2001/QĐ-UB (31/12/2001) của UBND Tỉnh Thái Nguyên về chương trình phát triển CN-TTCN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005.

(*) Quan điểm chung cho cụm CN-TTCN này là lấy (i) hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. (ii) Tạo việc làm nhiều hơn, số lao động tăng thêm hàng năm, giảm đáng kể thất nghiệp; (iii) Cải thiện chất lượng cuộc sống, môi trường đô thị; (iv) Đổi mới căn bản tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao. Phát triển các hình thức liên doanh liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, cá thể và các công ty nước ngoài.

(*) Mục đích chính: (v) cụm CN-TTCN hỗ trợ phát triển ngành Công nghiệp có vai trò là động lực và nòng cốt quá trình HĐH-CNH khu vực; (vi) Khai thác triệt để các nguồn nội lực và thu hút sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực (input), tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ tiến tiến, hiện đại và hội nhập với thị trường khu vực và thế giới (hình vẽ 1).

(*) Trên cơ sở nhu cầu phát triển, quan điểm, mục đích mà việc lựa chọn những ngành công nghiệp theo nhóm công nghiệp chủ đạo, ưu tiên như: 1) công nghiệp VLXD; 2) cơ khí phục vụ nông lâm; 3) Sản xuất và gia công thép nguội; 4) chế biến nông- lâm sản thực phẩm và; 5) sản xuất hàng tiêu dùng. Quan trọng hơn hết là phải đảm bảo mọi chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do Nhà nước qui định đối với các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng.

Mô hình CN-TTCN hướng tới phát triển bền vững

Đối với xu hướng phát triển bền vững thì sự quan tâm đến mọi lĩnh vực, đa ngành là rất cần thiết bởi mô hình “simulation” hình thành sẽ đánh giá toàn bộ ảnh hưởng diễn ra trong mọi quá trình vận hành của cụm CN-TTCN nói chung và từng nhà máy, XNCN nói riêng. Ngoài những yêu cầu đối với qui hoạch cụm CN-TTCN theo quyết định số 322-BXD/ĐT của Bộ xây dựng về việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng thì dự án còn quan tâm thêm những lĩnh vực như:

+ Chuẩn bị công tác qui hoạch

+ Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động qui hoạch (Output)

+ Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)

a. Chuẩn bị công tác qui hoạch

Công tác chuẩn bị qui hoạch đòi hỏi dựa trên những phản ảnh thực tế để rồi lồng ghép một cách hiệu quả, tương thích với những khía cạnh kinh tế- xã hội, xây dựng, quản lý đô thị và môi trường. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các cụm CN-TTCN (tính đến tháng 8/2002 cả nước có tổng số 124 cụm CN-TTCN qui mô vừa và nhỏ trên 19 Tỉnh, Thành phố) chưa quan tâm đầy đủ đến sự cân bằng giữa “cung- cầu” do sự chênh lệch hiện nay giữa hai thái cực này càng trở thành chủ đề chính và cần có sự tham gia của nhiều Ngành bởi bất kỳ sự biến động giữa “cung-cầu” đều ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững nói chung. Theo số liệu bước đầu về nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên cho thấy đây chính là tiềm năng tiềm ẩn lớn trong khu vực bởi cụm CN-TTCN đã thu hút sự quan tâm sâu sát của họ ngay từ giai đoạn lập qui hoạch, đó cũng là một yếu tố tích cực của xu hướng này. Vì vậy, việc sắp xếp, bố trí các XNCN và các chức năng khác cần phải tuân theo những nguyên tắc, tổ hợp về qui hoạch công nghiệp (theo kiểu hợp khối liên tục, đơn nguyên, chu vi…hình vẽ 2). Tuy nhiên, tổ chức qui hoạch này chưa thực sự đi vào cuộc sống khi chưa tính toán và xem xét cẩn trọng đến hiện tượng “nóng cục bộ” trong lõi cụm CN và đô thị.

(*) Hiện tượng “nóng cục bộ” (heat-island)

Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân tác động làm biến đổi khí hậu, gia tăng hiệu ứng nhà kính, hấp phụ hâm “nóng” lõi các đô thị hiện đại và cụm CN vào ban ngày và tán “lạnh” đột ngột vào ban đêm, hậu quả là tạo ra những cơn lốc xoáy trong khu vực nội thị, trong KCN rồi bốc lên cao biến toàn khu vực như một chảo nóng-lạnh khổng lồ mà con người sẽ phải gánh chịu cùng với những hiểm họa khôn lường.

Phương án qui hoạch cụm CN-TTCN ở thành phố Thái Nguyên bước đầu được thiết kế trên quan điểm tôn trọng địa hình thiên nhiên, đây chính là ưu điểm mà cảnh quan thiên nhiên vùng Việt Bắc ban tặng. Song song là tỷ lệ “xanh” hoá tăng và phân bố linh hoạt- hài hoà với tổng thể cụm CN-TTCN có tác dụng làm giảm, thậm chí có thể hoá giải được hiện tượng nóng lên cục bộ và làm cho môi trường ngày càng trở nên lý tưởng. Và phương án có hướng lồng ghép các chức năng với các đồi cây xanh sinh thái trở thành quần thể kiến trúc cảnh quan sinh động trong hệ sinh thái toàn vùng. Tuy nhiên, giải quyết đồng bộ vấn đề này phụ thuộc trực tiếp giữa các mối liên hệ về cơ cấu phân khu chức năng cụm CN-TTCN với cộng đồng dân cư xung quanh sao cho khai thác tối đa các nguồn lực: (1) nguồn nguyên liệu; (2) nguồn nhân lực; (3) nguồn tài nguyên thiên nhiên và (4) khả năng quản lý, vận hành cụm CN-TTCN song hành với hệ thống hành chính Tỉnh, Thành phố. Do đó, phương pháp mô phỏng và đánh giá sự giao thoa nguồn lực sẽ có thể là công cụ mang tính chiến lược, hữu hiệu cho cụm CN-TTCN này.

b. Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động từ hoạt động của cụm CN-TTCN

“Simulation” được hiểu như một mô hình khép kín được tính toán từ: 1)đầu vào (input) của nguồn (hình vẽ 3); 2)những sản phẩm chính- phụ thông quá trình vận hành; 3)đầu ra là thành phẩm cuối cùng của mỗi dây chuyền. Bên cạnh đó, hoạt động của cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên sẽ có những ảnh hưởng và tác động nhất định qua hai loại dây chuyền chính đó là: dây chuyền tổng thể và dây chuyền trong mỗi XNCN theo từng tính chất, loại hình và đặc điểm chung của chúng.

(*) Dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN

Mục tiêu của dây chuyền đặt ra gắn liền với tiêu chí phát triển chung cụm CN-TTCN sao cho tác dụng, ý nghĩa của nó đóng góp tích cực vào tiến trình sản xuất qua đó tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư khu vực, một số mục tiêu đó là:

+ Bảo vệ môi trường phát triển bền vững đô thị và vùng lân cận

+ Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư

+ Giải quyết triệt để hiện tượng “nóng cục bộ”

+ Sử dụng hiệu quả nguồn lực, và xử lý chất thải công nghiệp

+ Hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và gần gũi với thiên nhiên (green productions và environmental friendly)

+ Tạo hành lang pháp lý nổi trội cho hoạt động, hấp dẫn đầu tư vào cụm CN-TTCN

Những điều này luôn gắn liền với sự tồn tại lâu dài cụm CN-TTCN bởi những ràng buộc nhất định có ý nghĩa thúc đẩy nhanh quá trình HĐH-CNH khu vực. Qui hoạch bước đầu xem xét, xác định và định tính những yếu tố bất lợi có thể khi đưa vào vận hành bằng cách phân loại nhà máy theo múc đô ô nhiễm như các XNCN: (1) sạch ; (2) có thể gây ô nhiễm; (3) ít gây ô nhiễm; (4) ô nhiễm và sau cùng các “chất thải đã qua sử dụng triệt để” được đưa vào khu xử lý làm sạch nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào hệ thống thoát chung của Thành phố thông qua hệ thống quan trắc (monitoring) và bảo vệ tối đa, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên được diễn hoạ ở hình vẽ 3.

Phải nói rằng, việc bố trí các hình thái kiến trúc CN ở đây sẽ tạo nên một bộ mặt kiến trúc- cảnh quan đô thị khang trang, hiện đại phù hợp, hài hoà với công năng, cụm dân cư và đặc biệt là tuyến quốc lộ 3 huyết mạch liên kết Thái Nguyên với Hà nội nói riêng và vùng Việt Bắc nói chung. Để tránh lặp lại trường hợp trên tuyến quốc lộ 5, cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên được kết nối những dải cây xanh cách ly cùng với khoảng lùi lớn rất linh hoạt cho quá trình phát triển đô thị cũng như khả năng nâng cấp, mở rộng quốc lộ 3 tới năm 2010.

(*) Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN

Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN là thành phần cấu thành nên dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN này, nó được lồng ghép thích hợp vào trong vòng quay chung và đóng góp vào sự thành công của mô hình phát triển bền vững tương lai. Mỗi dây chuyền đó cần phải được tính toán thông qua các tiêu chí cụ thể về: (1) công nghệ; (2) hiệu quả kinh tế; (3) chất lượng sản phẩm ; (4) quá trình vận hành, bảo trì và (5) niên hạn. Để có thể xuất khẩu sản phầm có chất lượng và hội nhập quốc tế thì việc khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000, 9001, đặc biệt ISO 14000 hay hệ thống EMS (Environmental Management System) sẽ làm tăng hiệu quả khai thác dây chuyền khép kín cũng như dây chuyền tổng thể vô cùng lớn.

c. Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)

ở từng giai đoạn phân kỳ sẽ phân định những tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết nhằm đưa ra những đánh giá xác thực tại thời điểm đó, qui trình này sẽ được thực hiện liên tục và lâu dài trong toàn bộ quá trình hoạt động cụm CN-TTCN. Dựa trên những kết quả từ các trạm quan trắc “monitoring” phối kết hợp với cơ quan chuyên ngành để đưa ra những điều chỉnh cụ thể nhằm làm tăng giá trị và thời gian hoạt động cụm CN như đã định từ thửa ban đầu đảm bảo thành công cho mô hình phát triển bền vững.

Qui hoạch chi tiết Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên là minh chứng cho xu hướng phát triển cho sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với ngành công nghiệp, lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế cho quá trình HĐH-CNH. Đặc biệt mô hình CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững ít nhiều có tác động giảm thiểu nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển đô thị-nông thôn trong giai đoạn mới của đất nước.

+ Tài liệu tham khảo

1. Statistic publishing house, “Master plan of sectors and National programs in Vietnam to the years after 2000”, Hanoi, 12.1997.

2.Bộ xây dựng. Quy hoạch quản lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt nam, Nhà xuất bản xây dưng, Hà nội, 1998.

3. NMH, QHCT cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên, Viện Quy hoạch ĐT-NT, Hà nội, 6.2002.

July 17, 2008 Posted by akinmh | journal paper, research | , , | No Comments Yet

Improving the Urban Living Environment through Open Space Management in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam

IMPROVING THE URBAN LIVING ENVIRONMENT THROUGH OPEN SPACE MANAGEMENT: A CASE STUDY OF THE “36 OLD STREETS” QUARTER OF HANOI, VIETNAM

(Published in: Asian Institute of Technology, Thailand)

Abstract

Improving urban living environment is one important target for large cities in developing countries. Hanoi is one such city, with a rich cultural heritage reflecting nearly 1000 years of history. Open space management is key element of improving the living condition of Hanoi’s core, the ‘36 Old Street Quarter’.

Implementation of the policy of economic reform (doi moi) led to increase urbanization, causing disappearance of open space and a serious deterioration of living condition. Flawed institutions have also significantly influenced open space management. Thus, to manage effective those areas, institutions need also to be reformed.

The study is a descriptive research through sampling, interviews and secondary data to analysis existing issues in term of open space management. The main problems are over-complicated legal provisions, structure and implementation process for managing courtyards in tube houses and recreational grounds in old quarter.

In order to address these issues, specific strategies for establishing guidelines are proposed. These are regulatory simplification and adjustment, decentralization of decision- making and simplification of management process. Finally, an action plan is necessary to implement strategies successful towards effective and efficient management of open space as well as best community participation for future ‘36 old street quarter’.

More info: AIT Library

Downloadable contents:

Cover and Title

Acknowledgement; Table of Content

Chapter 1; Chapter 2; Chapter 3; Chapter 4; Chapter 5; Chapter 6; Chapter 7 & 8 (to be uploaded upon request)

References

This publication is copyrighted. You may download, display and print it for Your own personal use. Commercial use is prohibited.

November 20, 2007 Posted by akinmh | research | , , | No Comments Yet

“Spirit” of Hanoi Ancient Urban Area and Its Heritage

(Published in: Construction Planning Journal, Vol. 22 [4] 2006, pp.39-41)

Summary

Ancient “spirit” for anybody, it may be whatever is going to be existed, such as a vendor, unsteady street, an old house surrounding … They are physical basic partials created ancient “spirit” long time ago.

Ancient streets at present have become partly indispensable in each of us line an ancient street hidden a magnanimous period with a lifestyle, culture, belief and changes towards better future.

“Spirit” of present ancient house is intangible value which had in the past. If we can not see the value for preservation, the house will be lost its actual attraction. To push “spirit” into the house is the necessary must be carefully considered and respected “speakable things” to speak out the value of space, time, unique lifestyle of specific house.

November 20, 2007 Posted by akinmh | journal paper, research | | No Comments Yet

Examining Conservation Possibilities on Reciprocal Relations between the built Environment and Heritage User: A case study of 36 Old Streets Quarter in Hanoi, Vietnam.

Ngo Minh Hung, Wong Yunn Chii, Heng Chye Kiang

(Accepted in: HERITAGE 2008 International Conference, Portugal)

Abstract

The Old Quarter of Hanoi, implies the commercial area- “Kẻ Chợ” outside the Royal Citadel, is considered the best place to experience the spirit of the one thousand year old Hanoi with values- tangible: urban fabric, tube-house architecture and historic-cultural- religious buildings; – intangible: lifestyle and ethnic standard of natives, traditional guilds with its streets (Hàng) bearing the names of the goods manufactured on them. Change of the built environment in the Ancient Quarter has been challenging heritage users (local authority, native, merchant) before current market-oriented mechanism of mega-city like Hanoi. Over the past 25 years, such three pilot projects of building preservation within Hanoi Ancient Quarter (HAQ)- covering over 800 relics that need to be urgently preserved, have been conducted by applied “reproducible preservation method” with the international assistance.

To Hanoi city, community participation plays a vital role in retaining the built heritages, which provide significant functions to the users – who enable to grasp opportunities in use of physical settings. The research aims to assess reciprocal relationship of both key elements (material elements and user’s behavior) in heritage environment (in-outdoor and sharing spaces) of 36 Old Streets Quarter that affords inhabitants (i) perceiving the environment qualities to spring potential opportunities in (ii) utilizing physical settings and; (iii) shaping variously spatial forms; and a cross- comparison of those layers is logically analyzed to formulate a notion of “interplay- preservation” at town and architectural level. It argues that for a sustainable development that would retain the identity of the heritage city, a ground-up framework (GUF) is conceptualized to emphasis on integrating actual heritage condition with traditional methods of indigenous community is recommended.

Keyword: community participation, potential possibilities, GUF, urban heritage

November 20, 2007 Posted by akinmh | research | , , | No Comments Yet

Greenery Planning For Public Utilities in Urban Areas Design standards

Biên soạn Tiêu chuẩn Xây dựng Thiết kế Quy hoạch Cây xanh Đô thị
(Mã số TC 27-01, hoàn thành năm 2005)

I. Giới thiệu chung và sự cần thiết của đề tài

Nước ta kéo dài từ Mục nam Quan tới mũi Cà Mau với địa hình phong phỳ và đa dạng như vùng đồng bằng, vùng biển, vùng núi và trung du. Với các loại địa hình như vậy dưới quá trình đô thị hóa thì các đô thị của chúng ta phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất lượng trong thời kỳ đổi mới này. Số lượng các đô thị phát triển khoảng 600 đô thị, trong đó có 4 thành phố lớn trực thuộc Trung ương, 73 thành phố-thị xã trực thuộc Tỉnh và hơn 500 thị trấn. Qua đó cho thấy hầu hết các đô thị đó và đang phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao-du lịch nhằm làm hạt nhân, động lực thúc đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH.

Đô thị phát triển mạnh càng đòi hỏi sự ổn định, phát triển bền vững trên cơ sở tổ chức hợp lý cơ cấu, chức năng đặc biệt là hệ môi trường sinh thái với thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Mục tiêu chiến lược mà Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phát triển đô thị đó là xác định từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đụ thị với cơ sở kinh tế- xã hội, kỹ thuật hiện đại, môi trường trong sạch và giữ gìn- phát huy bản sắc dân tộc. Môi trường sinh thái là yếu tố rất quan trọng đối với đời sống nói chung và đô thị núi riêng bởi nó giúp cho con người có môi trường sống và làm việc- lao động sáng tạo, nghỉ ngơi và giải trí tốt nhất. Môi trường sinh thái bao gồm nhiều yếu tố như: đất, nước, không khí, ánh sáng, cây xanh, mặt nước và nhiều yếu tố khác. Trong đó, tỷ lệ diện tích cây xanh đô thị đóng vai trò then chốt trong mỗi đô thị nhằm đảm bảo môi trường, chất lượng cuộc sống cho đô thị và cần phải có một tỷ lệ thích hợp, tương xứng với các loại đất chức năng khác trong đô thị. Vì vậy, tiêu chuẩn cây xanh trong thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị là vô cùng quan trọng và cấp thiết.

II. Giới hạn của đề tài

Căn cứ nhiệm vụ đuợc giao theo HĐ số 54/HĐKT của Bộ Xây dựng về việc thực hiện đề tài khoa học cụng nghệ ngày 20/4/2001 đó xác định tên đề tài và giới hạn cụ thể như sau:

a. Đề tài: Biên soạn TCXD: Thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị mã số TC27-01

b. Giới hạn: (1) Nghiên cứu; (2) ‚ Biên soạn dự thảo TCXD, thiết kế qui hoạch cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị.

Do vậy, đây là cơ sở quan trọng để đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào tiêu chuẩn cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị nước ta. Tiêu chuẩn này sẽ được áp dụng vào thiết kế qui hoạch đô thị và lập các đồ án QHXD đô thị trên toàn quốc.

III. Mục tiêu của đề tài

a. Đánh giá hiện trạng tỷ lệ cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị nước ta.

b. Đánh giá chức năng, vai trò cây xanh trong phát triển đô thị trong nước và nước ngoài.

c. Đề xuất chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng hợp lý để áp dụng trong thiết kế quy hoạch cây xanh cho các đô thị.

IV. Phạm vi nghiên cứu

Cây xanh đô thị theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam Tập 1 (1997)- (Điều 5.11: Cây xanh đô thị, tr.71) gồm ba nhóm chính:

a. Cây xanh sử dụng cụng cộng (công viên, vườn hoa, vườn dạo…)

b. Cây xanh sử dụng hạn chế (trong các khu chức năng đô thị như khu công nghiệp, kho tàng, trường học…)

c. Cây xanh chuyên môn (cách ly, phòng hộ, nghiên cứu thực vật học…)

Downloadable forms (in Vietnamese):

Decision- 01/2006/QĐ-BXD

Cover

The standard and other details

September 30, 2007 Posted by akinmh | research | , | 2 Comments

A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam

A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam

Ngo Minh Hung, Wong Yunn Chii, Heng Chye Kiang

(Accepted in: Velocity 2007 International Conference, Munich)

Abstract

Hanoi Ancient Quarter, established from Lý Thái Tổ King period (year 1010 A.D), is the core of present Hanoi city as a political, economic centre of Vietnam. From the beginning, a simply mixed urban fabric, namely “Kẻ Chợ”, were gradually appeared by traditional tube-houses built and professional merchant streets named specifically in accordance with rudimentary transport. After ten centuries, this urban context is undamaged, typically square “3-7 meters width” road-network, extreme narrow alley and the house corridor (0.5-1 meter), which are literally fit for an ancient town featuring bicycle, cyclo (xích-lô) and pedestrian street. Unknown travel patterns seen as present are mixing traffic flow causing congestion, conflict and pollution for the Ancient Quarter’s value and, especially poorer community’s living condition. Lacking space to motorized vehicle raises difficulties for Hanoi authority and local dwellers because of various encroachments in bounded areas.

To deal with the research method is conducted to fall in two-folds: (1) re-assess original elements (bicycle, pedestrian and unique trading culture) constituting local uniqueness and; (2) make use of flexible locations for traffic and rudimentary transport. Therefore, the major planning strategy enhancing cultural knowledge as well as upgrading infrastructural quality and facilities is proposed accordingly in order to properly overcome meeting phenomena in order to improve quality of life in the Ancient Quarter – the one of National heritage sites.

September 30, 2007 Posted by akinmh | research | , | No Comments Yet