An Institutional Reform- Based Approach to Managing Open-Space in Expanded Hanoi City

The map of “e-Hanoi” is prepared by VIAP (2008) and Research Questions:
1. What should e-Hanoi do to increase greenery areas next periods?
2. How does e-Hanoi manage and protect current open-spaces through the City’s institution system?
I have used terms- e-Hanoi, OPM, O-P, regulatory simplification & adjustment, decision-making restructure & management process to describe several ideals about reform-processes to deal with these issues.
An industry planning model (small,medium-scale) towards sustainable development
Mô hình qui hoạch công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp hướng tới Phát triển bền vững
(Tạp chí QH, năm 2002)
Những năm qua phát triển ngành công nghiệp là một trong những Ngành được Đảng, Nhà nước và các Ban Ngành giành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt chính sách ưu đãi, khuyến khích và thu hút đầu tư cho lĩnh vực chiếm ưu thế thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chiến lược này được khẳng định trong qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tới năm 2010 như sau: “Mục tiêu lâu dài thực hiện CNH, HĐH từ nay cho đến năm 2010 là biến đổi nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hình thành nền kinh tế phát triển năng động, tự chủ, đủ sức cạnh tranh, hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam á và thế giới”. Trong đó, quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng lấy CNH-HĐH phải theo hướng xã hội chủ nghĩa, là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế; đồng thời lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho “phát triển nhanh và bền vững”.
Nhìn chung, phát triển ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) được qui định dựa trên cơ sở phân cấp quản lý (decentralisation) theo NĐ số 36/CP (24/4/1997); TT số 04 BXD/KTQH (30/7/1997) và số 08/TT-KHĐT (29/7/1997)..v.v. nhằm phát huy tối đa các nguồn lực từng vùng. Do đó, nhiều Tỉnh- Thành phố đã và đang tiến hành xây dựng qui hoạch phát triển CN-TTCN trước mắt cũng như lâu dài cho mình làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng “nội lực” bản thân hoà cùng xu thế phát triển chung của đất nước.

Yếu tố “Nội- Ngoại” lực của cụm CN-TTCN TP. Thái Nguyên
Thực tế cho thấy chủ trương này có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan từ các qui hoạch Ngành, qui hoạch tổng thế kinh tế- xã hội đến lập qui hoạch-dự án các khu- cụm CN-TTCN.v.v. gây nên. Hàng loạt các cụm CN-TTCN ra đời với hình thức “trăm hoa đua nở” cả về qui mô lẫn hình thức, trong đó không ít dự án mới chỉ tính toán đến hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi và sao nhãng đến lĩnh vực môi trường sinh thái- cảnh quan thiên nhiên. Hậu quả là các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn và chất thải công nghiệp, đặc biệt là phải kể đến hiện tượng “nóng cục bộ” (heat island) trong các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng gây mất cân bằng sinh thái, huỷ hoại môi trường ngày càng nghiêm trọng và điều chắc chắn là rất khó có thể khôi phục lại những gì đã mất. Câu hỏi đặt ra (?) : Liệu cái “được” từ cụm CN-TTCN so với cái “mất” của môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên thì cái nào lớn hơn?. Nên chăng, chúng ta cần phải xem xét vấn đề này khi còn trong giai đoạn nghiên cứu lập dự án qui hoạch? hơn hết vẫn là: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Khai thác cụm CN-TTCN hiệu quả và bảo vệ môi trường chính là những thành phần chính yếu trong mô hình qui hoạch cụm CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững, đồng thời là giải pháp toàn diện cho môi trường xã hội “xanh, sạch, đẹp” và nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị-nông thôn, phát triển dài lâu. Do vậy, một minh hoạ cụ thể cho xu hướng này bước đầu được nghiên cứu thông qua dự án qui hoạch cụm CN-TTCN tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và đã được phê duyệt theo QĐ số 2850/QĐ-UB của UBND Tỉnh Thái Nguyên ngày 23/9/2002.
Như chúng ta đã biết, quy hoạch chung xây dựng thành phố Thái nguyên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 802/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1996 đã xác định: “…là Tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là thành phố công nghiệp, là trung tâm của vùng Việt Bắc, đầu mối giao thông của các tỉnh miền núi phía Bắc và có vị trí chiến lược về an ninh và quốc phòng…”. Kể từ đó đến nay, thành phố Thái Nguyên đã phát huy nội lực, tập trung thúc đẩy phát triển mọi nguồn lực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Năm 2001, tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,8%, GDP chiếm 71,4%, công nghiệp và XDCB chiếm 46%, dịch vụ 45,2%, nông-lâm nghiệp chiếm 8,8%. Vừa qua, những nỗ lực ấy lại được khẳng định khi thành phố Thái Nguyên chính thức đuợc công nhận là đô thị loại II đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Thành phố (19/10/1962- 19/10/2002).
Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên
Cụm CN-TTCN thực hiện trước những đòi hỏi và thách thức của quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh ở khu vực thành thị, ngoài những mặt tích cực thì mặt trái là những vấn đề tiêu cực về ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, an ninh- xã hội phức tạp bởi sự phát triển tự phát, phân tán của các ngành-nghề và dân cư…Hơn nữa hoạt động CN-TTCN của thành phố Thái Nguyên có qui mô sản xuất nhỏ, thiết bị công nghệ “già cỗi” và hiệu quả chưa cao. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội nghị lần thứ XIV của Đảng bộ Tỉnh Thái Nguyên đã xác định trong 5 năm 2001-2005 là: “Phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng Thành phố giàu về kinh tế…” nên nhu cầu thiết yếu của thành phố về hình thành xây dựng các cụm CN-TTCN trên địa bàn được đặt ra nhằm thu hút đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp được khuyến khích làm chuyển biến tích cực nền kinh tế đồng thời làm phong phú thêm các loại hình công nghiệp, kiến trúc và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
Cụm CN-TTCN này có qui mô vừa, bao gồm các ngành nghề phụ trợ cho CN luyện kim và cơ khí, chế tạo động cơ, SX hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm sản và hơn nữa“sản phẩm sản xuất ra sẽ thay thế hàng nhập khẩu, phần lớn sẽ phục vụ cho sự phát triển của khu vực và xuất khẩu hàng công nghiệp có ưu thế cạnh tranh”. Bên cạnh đó, việc xác định các loại hình CN trong cụm CN-TTCN luôn tuân thủ và bám sát thông tư số 08/TT-KHĐT (29/7/1997) của Bộ Công nghiệp và quyết định số 5207/2001/QĐ-UB (31/12/2001) của UBND Tỉnh Thái Nguyên về chương trình phát triển CN-TTCN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005.
(*) Quan điểm chung cho cụm CN-TTCN này là lấy (i) hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. (ii) Tạo việc làm nhiều hơn, số lao động tăng thêm hàng năm, giảm đáng kể thất nghiệp; (iii) Cải thiện chất lượng cuộc sống, môi trường đô thị; (iv) Đổi mới căn bản tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao. Phát triển các hình thức liên doanh liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, cá thể và các công ty nước ngoài.
(*) Mục đích chính: (v) cụm CN-TTCN hỗ trợ phát triển ngành Công nghiệp có vai trò là động lực và nòng cốt quá trình HĐH-CNH khu vực; (vi) Khai thác triệt để các nguồn nội lực và thu hút sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực (input), tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ tiến tiến, hiện đại và hội nhập với thị trường khu vực và thế giới (hình vẽ 1).
(*) Trên cơ sở nhu cầu phát triển, quan điểm, mục đích mà việc lựa chọn những ngành công nghiệp theo nhóm công nghiệp chủ đạo, ưu tiên như: 1) công nghiệp VLXD; 2) cơ khí phục vụ nông lâm; 3) Sản xuất và gia công thép nguội; 4) chế biến nông- lâm sản thực phẩm và; 5) sản xuất hàng tiêu dùng. Quan trọng hơn hết là phải đảm bảo mọi chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do Nhà nước qui định đối với các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng.

Mô hình CN-TTCN hướng tới phát triển bền vững
Đối với xu hướng phát triển bền vững thì sự quan tâm đến mọi lĩnh vực, đa ngành là rất cần thiết bởi mô hình “simulation” hình thành sẽ đánh giá toàn bộ ảnh hưởng diễn ra trong mọi quá trình vận hành của cụm CN-TTCN nói chung và từng nhà máy, XNCN nói riêng. Ngoài những yêu cầu đối với qui hoạch cụm CN-TTCN theo quyết định số 322-BXD/ĐT của Bộ xây dựng về việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng thì dự án còn quan tâm thêm những lĩnh vực như:
+ Chuẩn bị công tác qui hoạch
+ Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động qui hoạch (Output)
+ Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
a. Chuẩn bị công tác qui hoạch
Công tác chuẩn bị qui hoạch đòi hỏi dựa trên những phản ảnh thực tế để rồi lồng ghép một cách hiệu quả, tương thích với những khía cạnh kinh tế- xã hội, xây dựng, quản lý đô thị và môi trường. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các cụm CN-TTCN (tính đến tháng 8/2002 cả nước có tổng số 124 cụm CN-TTCN qui mô vừa và nhỏ trên 19 Tỉnh, Thành phố) chưa quan tâm đầy đủ đến sự cân bằng giữa “cung- cầu” do sự chênh lệch hiện nay giữa hai thái cực này càng trở thành chủ đề chính và cần có sự tham gia của nhiều Ngành bởi bất kỳ sự biến động giữa “cung-cầu” đều ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững nói chung. Theo số liệu bước đầu về nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên cho thấy đây chính là tiềm năng tiềm ẩn lớn trong khu vực bởi cụm CN-TTCN đã thu hút sự quan tâm sâu sát của họ ngay từ giai đoạn lập qui hoạch, đó cũng là một yếu tố tích cực của xu hướng này. Vì vậy, việc sắp xếp, bố trí các XNCN và các chức năng khác cần phải tuân theo những nguyên tắc, tổ hợp về qui hoạch công nghiệp (theo kiểu hợp khối liên tục, đơn nguyên, chu vi…hình vẽ 2). Tuy nhiên, tổ chức qui hoạch này chưa thực sự đi vào cuộc sống khi chưa tính toán và xem xét cẩn trọng đến hiện tượng “nóng cục bộ” trong lõi cụm CN và đô thị.

(*) Hiện tượng “nóng cục bộ” (heat-island)
Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân tác động làm biến đổi khí hậu, gia tăng hiệu ứng nhà kính, hấp phụ hâm “nóng” lõi các đô thị hiện đại và cụm CN vào ban ngày và tán “lạnh” đột ngột vào ban đêm, hậu quả là tạo ra những cơn lốc xoáy trong khu vực nội thị, trong KCN rồi bốc lên cao biến toàn khu vực như một chảo nóng-lạnh khổng lồ mà con người sẽ phải gánh chịu cùng với những hiểm họa khôn lường.
Phương án qui hoạch cụm CN-TTCN ở thành phố Thái Nguyên bước đầu được thiết kế trên quan điểm tôn trọng địa hình thiên nhiên, đây chính là ưu điểm mà cảnh quan thiên nhiên vùng Việt Bắc ban tặng. Song song là tỷ lệ “xanh” hoá tăng và phân bố linh hoạt- hài hoà với tổng thể cụm CN-TTCN có tác dụng làm giảm, thậm chí có thể hoá giải được hiện tượng nóng lên cục bộ và làm cho môi trường ngày càng trở nên lý tưởng. Và phương án có hướng lồng ghép các chức năng với các đồi cây xanh sinh thái trở thành quần thể kiến trúc cảnh quan sinh động trong hệ sinh thái toàn vùng. Tuy nhiên, giải quyết đồng bộ vấn đề này phụ thuộc trực tiếp giữa các mối liên hệ về cơ cấu phân khu chức năng cụm CN-TTCN với cộng đồng dân cư xung quanh sao cho khai thác tối đa các nguồn lực: (1) nguồn nguyên liệu; (2) nguồn nhân lực; (3) nguồn tài nguyên thiên nhiên và (4) khả năng quản lý, vận hành cụm CN-TTCN song hành với hệ thống hành chính Tỉnh, Thành phố. Do đó, phương pháp mô phỏng và đánh giá sự giao thoa nguồn lực sẽ có thể là công cụ mang tính chiến lược, hữu hiệu cho cụm CN-TTCN này.
b. Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động từ hoạt động của cụm CN-TTCN
“Simulation” được hiểu như một mô hình khép kín được tính toán từ: 1)đầu vào (input) của nguồn (hình vẽ 3); 2)những sản phẩm chính- phụ thông quá trình vận hành; 3)đầu ra là thành phẩm cuối cùng của mỗi dây chuyền. Bên cạnh đó, hoạt động của cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên sẽ có những ảnh hưởng và tác động nhất định qua hai loại dây chuyền chính đó là: dây chuyền tổng thể và dây chuyền trong mỗi XNCN theo từng tính chất, loại hình và đặc điểm chung của chúng.
(*) Dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN
Mục tiêu của dây chuyền đặt ra gắn liền với tiêu chí phát triển chung cụm CN-TTCN sao cho tác dụng, ý nghĩa của nó đóng góp tích cực vào tiến trình sản xuất qua đó tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư khu vực, một số mục tiêu đó là:
+ Bảo vệ môi trường phát triển bền vững đô thị và vùng lân cận
+ Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư
+ Giải quyết triệt để hiện tượng “nóng cục bộ”
+ Sử dụng hiệu quả nguồn lực, và xử lý chất thải công nghiệp
+ Hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và gần gũi với thiên nhiên (green productions và environmental friendly)
+ Tạo hành lang pháp lý nổi trội cho hoạt động, hấp dẫn đầu tư vào cụm CN-TTCN
Những điều này luôn gắn liền với sự tồn tại lâu dài cụm CN-TTCN bởi những ràng buộc nhất định có ý nghĩa thúc đẩy nhanh quá trình HĐH-CNH khu vực. Qui hoạch bước đầu xem xét, xác định và định tính những yếu tố bất lợi có thể khi đưa vào vận hành bằng cách phân loại nhà máy theo múc đô ô nhiễm như các XNCN: (1) sạch ; (2) có thể gây ô nhiễm; (3) ít gây ô nhiễm; (4) ô nhiễm và sau cùng các “chất thải đã qua sử dụng triệt để” được đưa vào khu xử lý làm sạch nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào hệ thống thoát chung của Thành phố thông qua hệ thống quan trắc (monitoring) và bảo vệ tối đa, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên được diễn hoạ ở hình vẽ 3.
Phải nói rằng, việc bố trí các hình thái kiến trúc CN ở đây sẽ tạo nên một bộ mặt kiến trúc- cảnh quan đô thị khang trang, hiện đại phù hợp, hài hoà với công năng, cụm dân cư và đặc biệt là tuyến quốc lộ 3 huyết mạch liên kết Thái Nguyên với Hà nội nói riêng và vùng Việt Bắc nói chung. Để tránh lặp lại trường hợp trên tuyến quốc lộ 5, cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên được kết nối những dải cây xanh cách ly cùng với khoảng lùi lớn rất linh hoạt cho quá trình phát triển đô thị cũng như khả năng nâng cấp, mở rộng quốc lộ 3 tới năm 2010.

(*) Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN
Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN là thành phần cấu thành nên dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN này, nó được lồng ghép thích hợp vào trong vòng quay chung và đóng góp vào sự thành công của mô hình phát triển bền vững tương lai. Mỗi dây chuyền đó cần phải được tính toán thông qua các tiêu chí cụ thể về: (1) công nghệ; (2) hiệu quả kinh tế; (3) chất lượng sản phẩm ; (4) quá trình vận hành, bảo trì và (5) niên hạn. Để có thể xuất khẩu sản phầm có chất lượng và hội nhập quốc tế thì việc khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000, 9001, đặc biệt ISO 14000 hay hệ thống EMS (Environmental Management System) sẽ làm tăng hiệu quả khai thác dây chuyền khép kín cũng như dây chuyền tổng thể vô cùng lớn.
c. Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
ở từng giai đoạn phân kỳ sẽ phân định những tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết nhằm đưa ra những đánh giá xác thực tại thời điểm đó, qui trình này sẽ được thực hiện liên tục và lâu dài trong toàn bộ quá trình hoạt động cụm CN-TTCN. Dựa trên những kết quả từ các trạm quan trắc “monitoring” phối kết hợp với cơ quan chuyên ngành để đưa ra những điều chỉnh cụ thể nhằm làm tăng giá trị và thời gian hoạt động cụm CN như đã định từ thửa ban đầu đảm bảo thành công cho mô hình phát triển bền vững.
Qui hoạch chi tiết Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên là minh chứng cho xu hướng phát triển cho sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với ngành công nghiệp, lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế cho quá trình HĐH-CNH. Đặc biệt mô hình CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững ít nhiều có tác động giảm thiểu nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển đô thị-nông thôn trong giai đoạn mới của đất nước.
+ Tài liệu tham khảo
1. Statistic publishing house, “Master plan of sectors and National programs in Vietnam to the years after 2000”, Hanoi, 12.1997.
2.Bộ xây dựng. Quy hoạch quản lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt nam, Nhà xuất bản xây dưng, Hà nội, 1998.
3. NMH, QHCT cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên, Viện Quy hoạch ĐT-NT, Hà nội, 6.2002.
“Riverside City” Indispensable Trend in Urban Development
Thành phố bên sông xu hướng tất yếu của phát triển đô thị
(Construction Journal, 2002/ Tạp chí Xây dựng, 2002)
Đầu những năm 70, mọi vấn đề liên quan tới các con sông đã gây nhiều điều đáng chú ý ở châu Âu, và châu Mỹ và điều này vẫn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi theo chiều hướng khác nhau cho đến ngày nay. Bởi quanh các con sông, bờ sông là hệ môi trường sinh thái, không gian đô thị- vùng và các dấu ấn lịch sử đã và đang tồn tại nơi có những dòng chảy- êm dịu- hiền hoà hay dữ dội. Vào thời điểm này, đô thị đã phát triển và lan toả khắp mọi nơi, mọi chỗ với những tiềm năng sẵn có của từng vùng, tạo nên mạng lưới đô thị dầy đặc trên thế giới. trong đó rất nhiều đô thị coi những dòng sông như một phần “cơ thể đô thị” không thể tách rời. Vì vậy, phát triển đô thị bên sông trở thành xu hướng mới của nhiều quốc gia trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. những lĩnh vực quan tâm chính trong hình thức đô thị này được tập trung chủ yếu vảo: môi trường sinh thái (ecology), nguyên tắc thẩm mỹ (art principles) và quy hoạch sử dụng đất kết hợp với điều kiện địa lý nhằm bảo đảm sự phát triển bên sông một cách bền vững khi qua các thành phố hay ngoại vi lân cận.
Cùng thời gian, một nghiên cứu tổng hợp về 15 con sông (arno-florence; canals-venice; amstel, canals- amsterdam; seine-paris; seine, oise và marne-paris region; saone,rhone-lýon; limmat, sihl-zurich; thames-london; lea-london; ruhr-ruhr region; rhine, meuse-rotterdam; tyne-tyneside; potomac- wasington, d.c; charles-boston và hudson-newyork) và thành phố bên sông trên thế giới được thực hiện bởi mối đe doạ suy thoái, phá vỡ cân bằng sinh thái đã trở thành một vấn đề mang tính quốc gia và toàn cầu. Thêm vào đó, cách mạng công nghiệp bùng nổ cũng là thời điểm thế giới bước vào một kỷ nguyên suy thoái môi trường và con người thiếu nhận thức về môi trường dẫn đến mức độ nhiễm càng thêm trầm trọng và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ví dụ cho thấy, ô nhiễm nguồn nước ở một vài nơi đã có những tác động trực- gián tiếp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng và sự thịnh vượng (welfare) của xã hội. trong khi dòng chảy của mỗi con sông đều liên quan trực tiếp tới mạch nước ngầm trong lòng đất.v.v.. mà nguồn gây ô nhiễm lại chủ yếu từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người, thông qua các chu trình carbon và nitơ và phốtpho (carbon, nitrogen, phophorus cycle) gây nên sự suy thoái nguồn nước nghiêm trọng. Đối với vùng ven sông, thượng-hạ lưu sông thường là những nơi khá thuận lợi cho sự phát triển đô thị và những thành phố lớn- trù phú với công nghiệp tập trung qui mô lớn và các công trình công cộng- xã hội (utilities) phản ánh qua từng thời kỳ lịch sử.
Nguyên nhân khiến cho các lưu vực sông trở nên rất quan trọng bởi đó chính là sự giao thoa giữa đất, nước, không khí với thiên nhiên. Nơi mà con người tìm kiếm cơ hội sinh tồn và các hoạt động nhằm khôi phục nội lực bản thân như nghỉ ngơi, thể thao…với sự tăng trưởng kinh tế phần nào làm thay đổi các mối quan hệ xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống (qol), song nền văn minh đô thị công nghiệp đã thất bại khi phải đối mặt với những tham vọng lạm dụng hai bên bờ sông và đã tự huỷ hoại môi trường sinh thái, cảnh quan…xảy ra trong thời kỳ hậu công nghiệp.
Sự huỷ hoại đó diễn ra hai bên sông qua vùng đô thị không chỉ là một vấn đề giản đơn như bề nổi vẫn thấy mà phức tạp vô cùng. Tuy nhận thức về môi trường của con người ngày nay dần cải thiện, song nhu tiêu dùng nước ngày càng gia tăng gây lãng phí, làm kiệt quệ nguồn nước và các nguồn khác. Do đó, các dòng sông hiện đang phải chịu những tác động rất lớn do các thành phần đô thị đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái sông. để đánh giá được điều này thì lợi ích kinh tế -xã hội đã và đang chứng minh khả năng sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên là hợp lý hay bất hợp lý qua thời gian.
Nếu như con người có trách nhiệm trong quản lý đô thị thì cái “được”-“mất” về môi trường sinh thái và xã hội sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng để tìm ra những giải pháp tối ưu sao cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần phải: (1) giảm việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên; (2) ngăn chặn suy thoái môi trường: đất, nước, không khí và cảnh quan…; (3) tái sử dụng nước và những nguồn có thể; (4) tập trung hoá đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng với nhu cầu con người trong môi trường thiên nhiên. Để có thể thực hiện thành công tôn chỉ này, các bên liên quan (stakeholders)-cộng đồng sẽ phải đưa ra những công cụ quản lý hiệu quả như: thể chế (qui định, tổ chức và quy trình quản lý), quy hoạch đô thị và kỹ thuật tương thích..v.v.
Những phương pháp quy hoạch, hệ thống thể chế mới – hiệu quả trở thành những yếu tố quan trọng và bắt buộc đối với sự tồn tại vĩnh cửu của những dòng sông trong quá trình phát triển bền vững. ở mức độ khu vực, những qui định về sức khoẻ cộng đồng, sử dụng đất đai, cân bằng sinh thái, bảo tồn những vùng đất trù phú, tạo không gian thoáng và chương trình phát triển đô thị cần phải liên hệ chặt trẽ nhằm bảo vệ hệ thống cảnh quan thiên nhiên bên sông. đồng thời, cung cấp những lưu vực tốt nhất tạo quĩ đất xây dựng thích hợp đối với toàn bộ quá trình phát triển.
Cảnh quan sông là một vốn quí mà tạo hoá để lại gắn liền với những dấu ấn văn hoá, lịch sử tồn tại cho đến ngày nay. đối với vùng nông thôn, mặt nước và thảm thực vật đã tạo nên quần thể sinh thái-cảnh quan trên lưu vực sông xen lẫn những hoạt động thuần nông của người dân chân chất. Đối với vùng thành thị sự đánh dấu của con người đã tạo nên những hành lang ở từng thời điểm xây dựng, song mặt trái lại là những mâu thuẫn tồn tại với các mối quan hệ phức tạp-logíc của thiên nhiên. Khu vực thành phố thường có cấu trúc cảnh quan rất nổi trội và mang đậm tính chất, bản sắc cũng như đường nét riêng biệt của khu vực. Như ở paris, những toà nhà cổ kính soi mình xuống dòng sông đã tạo nên hành lang cảnh quan tuyệt vời, mà qua đó thành phố càng được tôn vinh hơn bởi dòng chảy êm đềm. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp người ta đã làm cho dòng sông trở nên phức tạp, lộn xộn và đánh mất những gì vốn có của con sông do thiên nhiên sắp đặt.
Sự hình thành những vùng đô thị trong hành lang sông là rất đa dạng với thành phần: khung cảnh thành phố, khối tích nhà, công trình công cộng và cảnh quan thiên nhiên- hoang dã…cũng cần phải được phát huy một cách thiết thực. Do đó, mô hình thành phố bên sông với những ưu-nhược điểm kết hợp kinh nghiệm các nước trên thế giới sẽ cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể và đa dạng sau đây:
Sông Thames, London- Anh.
London được mệnh danh là một thành phố “xanh”, người dân thành phố rất tự hào về hệ thống công viên, quảng trường và lớp thảm thực vật quanh thành phố. sự đa dạng về loại hình kiến trúc, nghệ thuật tạo hình- điêu khắc.v.v. và mạng lưới giao thông phát triển đô thị theo hướng phi tập trung bên sông. Tuy nhiên, London cũng là một thành phố công nghiệp lớn trong nhiều năm cùng với nhiều vấn đề phức tạp và gây ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống (QOL) nói riêng và cuộc sống đô thị nói chung.
Trải qua những năm khủng hoảng của thành phố, thì ngày nay sông Thames là một phần mang lại nhiều ý nghĩa và hy vọng cho người dân đô thị. Hiện sông Thames là một trong bốn con sông hoàng gia dưới sự bảo vệ của các triều đại nữ hoàng, và là một con sông mạng đậm chất nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử. sự hiện diện và duyên dáng của hệ mái vòm thánh đường Christopher Wrens, nhà thờ St. Paul là một mốc hiệu nghệ thuật hoà quện với kiến trúc cổ điển của toà nhà quốc hội, cầu Tower (xây dựng thế kỷ 19), và tháp London (thế kỷ 17) mang lại những sắc thái nghệ thuật kiến trúc dặc trưng bên sông. london cổ kính bởi các công trình dân dụng, tôn giáo, chính trị… cùng những cấu trúc hiện đại tạo nên bộ mặt đô thị khang trang. Tuy nhiên, để phát triển thành phố vào thế kỷ 18 một số toà nhà bị dỡ bỏ nhằm mở rộng hệ thống giao thông và lúc đó nhiều tiên đoán cho rằng cây cầu Tower cũng sẽ bị dỡ bỏ trong thế kỷ 19 song điều này đã không thành hiện thực và ngày nay giá trị của công trình này là vô giá.

Sông Thames- Đầu TK20
Sông Potomac- Washington, D.C.
Sông Potomac qua Washington, D.C là một ví dụ điển hình đã đem lại những bài học giá trị lớn cho các quy hoạch gia Mỹ kể từ khi thành phố Columbia được ví như thủ phủ của nước Mỹ năm 1791, một số quy hoạch vùng và đô thị đặc biệt đã được nghiên cứu và ít nhiều liên quan tương hỗ với Washington và phần dòng chảy qua thành phố này.
Sự phát triển thành phố bên sông được trải qua một số giai đoạn (1) quy hoạch thành phố Columbia năm 1791 của l’enfant; (2) Mcmillan năm 1902; (3)quy hoạch hệ thống công viên- sinh thái quốc gia năm 1929; (4) qui hoạch chính sách tới năm 2000 và (5) quy hoạch lưu vực sông Potomac.
Đáng chú ý phải kể đến quy hoạch lưu vực sông Potomac được thực hiện giữa những năm 1966 và 1968. Nghiên cứu tập trung vào việc bảo vệ nguồn nước, bảo tồn các dải ven sông, đồng thời tạo nên những cảnh quan đẹp bên sông quốc gia. Bên cạnh đó, công viên quốc gia cũng trở thành một trong những hành lang bên sông được bảo vệ thông qua thể chế của nhà nước. Vai trò của dòng sông là giải quyết hàng loạt vấn đề quanh vùng và washington: cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường- nước thải, kiểm soát lũ lụt và điều hoà dòng chảy, chống sói sụt-lở đất, quá trình bồi đắp và đóng góp những giá trị sinh thái rất có giá trị.

Hệ dòng chảy Potomac qua các lưu vực & sự phát triển bên sông
Việc kiểm soát sử dụng, phát triển bên sông thực hiện do chính quyền liên bang và các nhà chức trách khu vực theo đề xuất của Potomac river compact với 6 thành viên từ các bang Virginia, Maryland, West viginia, Pennylvania, một từ Columbia và chính phủ liên bang.
Năm 1963 tập đoàn kỹ thuật quân sự Mỹ đề xuất xây dựng khoảng 60 hồ chứa lớn (reservoirs) tại các lưu vực của sông nhằm điều hoà dòng chảy cũng như bảo vệ cảnh quan bên sông. Phần lớn những hồ chứa được bố trí ở các nhánh sông, kết hợp hài hoà và tạo nên những cảnh quan hiếm có của Shenandoah. Những hồ chứa lớn nhất được đặt phía cuối sông Potomac, nơi đây đã tạo nên một thuỷ điện lớn great falls của đất nước và của khu vực.
Những năm sau, một nhóm quy hoạch thuộc viện nghiên cứu kiến trúc mỹ được thành lập nhằm giải quyết thêm vấn đề của Potomac và được gọi là lực lượng thực hiện quy hoạch Potomac(Potomac planning task force). Kế hoạch đề ra những mục tiêu phải đảm bảo sự chỉnh trang thích hợp cảnh quan và khai thác nguồn lợi sinh học tại các lưu vực và nhóm này đã đưa ra những quan niệm mới cho Potomac như sau:
con sông: bao gồm mặt nước, hệ thống kênh của potomac và các nhánh sông gắn liền và phát triển dòng chảy.
bờ sông: là những vùng hành lang bên sông
môi trường sông: là những vùng nằm trong phạm vi bán kính 10km.
Quan niệm tiếp theo cũng rất quan trọng bởi nó sẽ thiết lập phía truớc sông Potomac ranh giới về kiến trúc-cảnh quan và sinh thái. Quy hoạch gia Mcharg- trưởng khoa kiến trúc cảnh quan thuộc đại học Pennsylvania, đã ủng hộ tích cực qui hoạch có liên quan tới môi trường sinh thái bởi ý nghĩa của việc sử dụng đất sao cho phù hợp với cơ sở hạ tầng kỹ thuật- xã hội đặc trưng của vùng và khu vực.
Và kết quả dự kiến của bản qui hoạch sẽ tạo nên một tổng thể hài hoà với thành phố theo trật tự, nguyên tắc và nhấn mạnh yếu tố bảo vệ môi trường cho đô thị và thiên nhiên. Nếu những thử thách đối với sông potomac vượt qua thì nơi đây sẽ cho chúng ta thấy hệ không gian cảnh quan bên sông tuyệt vời như bản qui hoạch đã định cho thành phố một cách đồng bộ.
Sông Limmat and Sihl- Zurich
Zurich là một thành phố của Thuỵ sỹ, trải dài từ phía bắc biển Zurich, kéo dài khoảng trên 60km uốn lượn từ tây sang tây bắc theo triền dốc của Schwyz alps. Zurich giống như Lyons và Pittsburrgh là nơi tập trung của hai con sông. Limmat và Sihl không lớn như những sông Rhone, Saone hay Monongahela, Allegheny, song có thể nhận ra những nét riêng từ dòng chảy, địa hình và số lượng cầu vượt qua sông cũng như những cảm nhận đặc biệt bởi một phần nổi lên của hòn đảo như con thuyền bồng bềnh trên mặt nước.
Sông Limmat là con sông lớn trong hai dòng sông đổ ra biển Zurich và đóng vai trò chiến lược trong quá trình phát triển thành phố. Người Thụy sỹ đã định cư trên dải sông này từ khá sớm tại những nơi giao nhau của các con sông, các tuyến đường qua Limmat tới thung lũng và hợp nhất với dòng Rhine. Vì vậy, Limmat trở thành xương sống chính của thành phố ngày nay.
Dòng sông Sihl cách biển Zurich khoảng 50km, bám dọc và song song với phía tây Zurich cho đến khi nhập vào dòng sông Limmat. Các dải đất được phủ xanh với các loại cây bụi đa dạng phát triển tới phía đông. Trung tâm thành phố hiện ghi lại nhiều dấu ấn gắn liền với limmat. Do đó, sự phát triển hướng tây Zurich không thu hút đựoc nhiều sự chú ý, có lẽ điều này giải thích tại sao sihl nằm trong vùng ảnh hưởng và mục tiêu phát triển của các nhà đô thị. Đơn giản, nó là một trong vùng có cảnh quan thiên nhiên đã được quản lý- bảo tồn cho quá trình phát triển đô thị từ khá lâu.

Dự án đường cao tốc trên cao dọc sông Sihl
Quá trình đô thị hoá diễn ra đòi hỏi các nhà qui hoạch cần phải thiết lập các dự án phát triển, trong đó dự án Sihl được quan tâm đặc biệt. Dự án đường cao tốc này đã được cơ quan liên bang thẩm định và là một phần trong chiến lược phát triển mạng đường giao thông quốc gia. trong những năm 1950, chương trình đường cao tốc đã được khởi công hai bên bờ sông Limmat và Sihl qua khu vực trung tâm zurich. Do một vài lý do, dự án này chỉ được thực hiện đối với tuyến qua Sihl bởi tuyến đường cao tốc qua Limmat sẽ phá vỡ cấu trúc bên sông, chia thành phố thành hai phần tách biệt và hạn chế phát triển đô thị.
Tuy nhiên vấn đề cao tốc Sihl đã không còn quá nghiêm trọng bởi những nghiên cứu xoay “đường cao tốc” của các nước thế giới công nghiệp vẫn liên tục diễn ra cho đến nay. Tuy nhiên, một điểm lưu ý là quá trình đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với quy hoạch đường cao tốc Zurich- Sihl đã được thực hiện cụ thể, chính xác đã giúp cho các nhà quản lý đô thị hiệu quả trong xây dựng tuyến đường. Toàn bộ tài liệu eia và các thông số kỹ thuật liên quan tới môi trường đều được công bố rộng rãi bởi tính tích cực của nó đối với công tác xây dựng. Cuối cùng, Zurich đã có thể tìm được một giải pháp hữu hiệu để giữ lại hình ảnh nguyên vẹn trải dài 5km theo sông, thúc đẩy – phát triển đầy đủ mọi chức năng dọc bên sông và cung cấp tuyến đường cao tốc liên khu vực mà không phá vỡ cảnh quan sông nói chung.
Sông Hồng- Hà nội
Hà nội đã có gần 1000 năm hình thành và phát triển với nhiều dấu ấn tuyệt vời. Qua thời gian, cho đến nay rất nhiều dự án nghiên cứu về thủ đô Hà nội do nhiều cơ quan tổ, chức thực hiện. Một trong số đó là đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thủ đô hà nội do viện qui hoạch Đô thị- Nông thôn và viện qui hoạch Hà nội thực hiện đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt theo QĐ số 108/1998/qđ-ttg ngày 20/6/1998 với :
quy mô dân số toàn khu vực đô thị Hà nội phát triển khoảng 4,5-5,0 triệu người (năm 2020) trong đó trung tâm thành phố Hà nội 2,5 triệu.
nhu cầu đất xây dựng tới năm 2020 là 25.000ha,
Hà nội là đô thị cải tạo và mở rộng với cấu trúc các khu vực đặc trưng chủ yếu:
khu hạn chế phát triển
khu ngoài hạn chế phát triển và phát triển mở rộng (hữu ngạn sông Hồng)
khu vực phát triển hà nội mới (bắc sông Hồng)
Do đó, vai trò sông Hồng trở nên đặc biệt quan trọng với khoảng gần 40km dài chảy qua hà nội và 3 cây cầu vượt qua sông Hồng (khu vực Hà nội) là cầu Thăng long, Chương dương và Long biên . Ngoài ra, một vài chương trình chính được định hướng và phát triển hai bên sông như:
chương trình đầu tư, bảo vệ môi trường gồm: nghiên cứu, lập qui hoạch môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị và ven sông hồng, cổ loa, hồ tây… (1)
dự án xây dựng nhà máy xử lý nước mặt sông hồng với công suát 130.000m3 đến 500.000 m3/ ngày (2)
và hàng loạt các dự án qui hoạch các quận- huyện- xã, cải tạo đê kè hai bên sông hồng thuộc địa bàn hà nội (qhct huyện từ liêm, thanh trì..v.v..).

Sông Hồng trong qui hoạch tổng thể Hà nội
(?) Câu hỏi được đặt ra: thực tế sông Hồng hiện nay ra sao? liệu dòng sông có trở thành xương sống chính của thủ đô Hà nội trong tương lai? giống như các con sông trên thế giới ?.
Nếu quan sát dòng chảy sông Hồng từ phía nước bạn TQ, qua tỉnh Lào cai-là vùng đầu tiên phía việt nam, cho thấy dòng chảy chính là sự kết hợp của nhánh Nậm thi và Sông hồng. Dòng chảy khá xiết, nhiều vùng soáy lớn nhỏ trên bề mặt dòng chảy, độ đục lớn- tạo nên bên lở_bên bồi rõ rệt. Đặc biệt, vấn đề môi trường sông cần phải đựoc đặt ra một cách nghiêm túc bởi có rất nhiều phế thải (gỗ vụn, giấy loại, chai, lọ…) đã được dòng chảy từ phía bạn đưa sang nước ta. Và sông Hồng tiếp tục chảy qua Yên bái, Phú thọ, Vĩnh phúc, Hà nội, đến Hưng yên, Thái bình, Nam định rồi đổ ra Biển đông.
Hiện nay, sông Hồng trở thành tuyến đường thuỷ chủ yếu phục vụ cho việc chuyên chở hàng hoá vật liệu xây dựng, than, xi măng… từ tỉnh ngoài về với 90% lượng hàng. Chỉ có 10% hàng của Hà nội được xuất đi tỉnh khác và nhiều nhất cũng chỉ là đồ gốm sứ, có đến 80% phương tiện của tư nhân, còn lại là của doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra, vấn đề bức xúc nữa phải kể đến nạn khai thác cát có và không phép ở khắp nơi trên sông Hồng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đô thị. Theo qui định của chỉ thị 03/1999/ct-ttg thì giấy phép hoạt động khai thác cát (17 giấy phép) hết hiệu lực sẽ buộc phải dừng hoạt động. Song điều này không ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị và làm phát sinh thêm các hình thức khai thác cát hút trên sông bằng các tàu, thuyền cỡ nhỏ và trung bình của tư nhân.
Rồi hậu quả chỉ ra là dòng chảy sông Hồng ngày càng biến đổi ngày càng lớn, và có xu hướng tạo các mạch nước ngầm ăn sâu hơn vào lòng đất. Trong những năm 1999, 2000 hàng loạt các vụ sụt lở đã diễn ra trên toàn tuyến sông Hồng và nghiêm trọng nhất là vụ sụt lở tiểu khu Nghĩa dũng (cũ)- thuộc bộ kiến trúc (cũ), chỉ sau một đêm hàng chục ngôi nhà bị lật nhào- mất tăm. Dãy nhà ven sông gần như bị “xoá sổ”. Đây là một hiểm hoạ tiềm ẩn nếu như dòng chảy sông Hồng bị đổi dòng và rồi những lạch ngầm sẽ tiếp tục xoáy vào khu dân cư ven sông, vào thân đê và những trụ cầu…
Quả thật, vấn đề sông Hồng còn phải bàn nhiều và cần có sự tham gia của các ban, ngành, cơ quan chuyên môn, các chuyên gia và cả những cộng đồng dân cư dọc hai bên bờ sông hồng. Song, một điều chắc chắn rằng sông Hồng được khai thác hiệu quả, phù hợp sẽ trở thành khu vực sinh thái- cảnh quan lớn cho Hà nội và cả vùng. đồng thời là ví dụ điển hình cho các con sông khác của nước ta.
Lời kết
Qua một vài ví dụ trong nuớc và trên thế giới cho thấy đô thị hiện đại đã coi những dòng sông là những thung lũng mở cuối cùng của các thành phố phát triển, và là nguồn tài nguyên thiên nhiên cuối cùng để con người có thể tiếp cận và tận hưởng những giá trị vô giá của nó đem lại. Đó là hệ thống cảnh quan-môi trường sinh thái và đòi hỏi mức độ quan tâm đặc biệt trong công cuộc bảo tồn và phát huy tài nguyên thiên nhiên còn lại. Hơn nữa, bất kỳ tác động nào ảnh hưởng đến dòng sông, hai bên sông sẽ cần phải đáp ứng được những hy vọng, mong muốn của xã hội- cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng môi trường đô thị , cũng như phát triển đô thị bền vững trong tương lai.
Tham khảo:
+ Roy mann., “rivers in the city”; david& charles newton abbot- great britain, 1973.
+ Bộ xây dựng., “quy hoạch xây dựng các đô thị”; nxb-xây dựng, 1999.
+ Trọng nghĩa., “sông hồng”; antđ 757, 2002.
+ Tường lâm., “dùng nước mặt sông hồng cấp nước sinh hoạt?”, antđ 797, 2002
+ Eldon, bradley., “environmental science”, wcb, u.s, 1995.
“Spirit” of Hanoi Ancient Urban Area and Its Heritage
(Published in: Construction Planning Journal, Vol. 22 [4] 2006, pp.39-41)
Summary
Ancient “spirit” for anybody, it may be whatever is going to be existed, such as a vendor, unsteady street, an old house surrounding … They are physical basic partials created ancient “spirit” long time ago.
Ancient streets at present have become partly indispensable in each of us line an ancient street hidden a magnanimous period with a lifestyle, culture, belief and changes towards better future.
“Spirit” of present ancient house is intangible value which had in the past. If we can not see the value for preservation, the house will be lost its actual attraction. To push “spirit” into the house is the necessary must be carefully considered and respected “speakable things” to speak out the value of space, time, unique lifestyle of specific house.
Presentation Slides at 6th APRU Conference, Oregon- USA
Re-planning structure and Socializing conservation of “Hanoi Ancient Quarter” towards Sustainable Urban Development in Vietnam.
(Full paper- Presented in: Annual Association of Pacific Rim Universities Conference, 2005. University of Oregon, USA)
Abstract
Hanoi Ancient Quarter called 36 Old Streets Quarter is just recognized as one of National Heritages including hundreds of valued relics from year 1010 to now. Urban development is being changed town structure and caused social problems loosing its initiated identity. To answer questions “What, Why and How?” so the aim of this paper is to discover historical and urban development process of the Ancient Quarter in terms of socio-economic characteristics, town conceptualizations in the past, as well as to review and evaluate social and community’s efforts in last ten years by applying “dots analytic system” (DAS) which based on sustainable urban design models. In order to re-plan structure and socialize preservation works, some key solutions of sustainable urban development and design are proposed in order to positively conserve and develop original image “Ancient Quarter” of Hanoi City towards sustainable urban development in the future
Key words: sustainable urban development and design, urban planning, conservation, socialization of conservation, DAS’s system.
Renovation and Promotion of the Value of the ancient “Intersection” land within the City
Tôn Tạo và Phát Huy giá trị vùng đất “Giao thoa” cổ trong thành phố (Kỳ.1)
(Tạp chí Xây dựng, số 12/2002; ISSN 0866-8762, trang 12-15)
“… Sự xuống cấp hay sự biến đổi của một tài sản thuộc di sản văn hóa hay tự nhiên, là một sự làm nghèo nàn di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới …” (UNESCO, 1972)
Đã từ lâu con người nhận thấy rằng sự tồn tại của di sản là những minh chứng quan trọng lịch sử- văn hóa- tôn giáo qua quá trình tiến hóa của mỗi dân tộc ở từng giai đoạn lịch sử. Đất nước ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Khi đất nước giải phóng, non sông thu về một mối, thì những quần thể di tích, di sản đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, điển hình là miền Bắc có khu phố cổ Hà Nội, Cổ Loa, các làng nghề truyền thống; miền Trung có kinh thành Huế, lăng tẩm triều Nguyễn, Hội An, thánh địa Mỹ Sơn… Chúng ta đã cùng bạn bè quốc tế khám phá ra những dấu ấn của ông cha mà không ít trong số đó có giá trị tầm cỡ khu vực và thế giới. Ngày nay, ở những nước đang phát triển như chúng ta, quá trình đô thị hóa đang nảy sinh những “áp lực” mang tính tiêu cực, ảnh hưởng đến các di sản, di tích hay không gian có giá trị một cách nghiêm trọng. Hậu quả là di tích bị đe dọa và xâm hại, đặc biệt là với những giá trị to lớn như trong lòng thành phố Huế.
- Đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh trong lòng thành phố
Gia Hội- Chợ Dinh chính là một vùng như vậy, ẩn mình trong quần thể di tích cố đô Huế- nơi đã từng tập trung, hội tụ những tinh hoa- tài năng của đất nước qua hàng thế kỷ và sáng tạo nên nhiều công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu và đặc trưng qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước. Với những đặc điểm là kinh đô cuối cùng của triều đại quân chủ Việt Nam thì Huế nói chung và Gia Hội- Chợ Dinh nói riêng, còn lưu giữ khá nhiều công trình, di tích mang giá trị nghệ thuật lớn trong và ngoài kinh thành. Lịch sử đã khẳng định sự hình thành và phát triển khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh ngay từ nửa đầu thế kỷ 19. Khi phố cổ Bao Vinh- thương cảng Thanh Hà (giai đoạn cuối TK 16 tới đầu TK 17) dần lụi tàn, và bên kia Đông Ba là sự phát triển của kinh Thành Huế (vàođầuTK 18), thìđô thị cổ này dần lan lên phía Gia Hội (cuối TK 18) và tồn tại đến ngày nay. Cho nên, Gia Hội- Chợ Dinh không những còn phảng phất nhiều hình ảnh thời kỳ ấy giữa Bao Vinh và Kinh Thành Huế mà con lưu giữ hàng trăm di tích của người Hoa, của các ông Hoàng- bà Chúa (có tên trong sử sách), người Nhật, Ấn Độ và các nhân vật lịch sử nổi tiếng một thời.
Đặc biệt, cái tên Gia Hội do chính vua Minh Mạng đặt vào năm 1837. Thời kỳ này Gia Hội nằm trên hòn đảo được bao bọc chung quanh bởi dòng sông Hương thơ mộng và sông Đông Ba nổi tiếng. Đường Chi Lăng ngày nay mà dân thường gọi là đường Gia Hội, vốn xưa có tên là phố Chợ Dinh hay Dinh Thị Phố. Giờ đây, Gia Hội- Chợ Dinh kéo dài từ cầu Gia Hội đến cầu Đông Ba trải dài trên địa phận hành chính 3 phường: Phú Cát, Phú Hiệp và Phú Hậu của thành phố Huế với diện tích khoảng 70ha.
Do vậy, mà Gia Hội- Chợ Dinh đã trở thành vùng đất “giao thoa” lịch sử và việc bảo tồn đô thị cổ này sẽ góp phần làmđậm nét những dấuấn lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thuận Hóa- Phú Xuân- Huế, đồng thời khai thác hiệu quả những giá trị “vật thể- phi vật thể” theo phương pháp khoa học, làm động lực phát triển kinh tế- xã hội và công nghiệp du lịch trong giai đoạn mới của đất nước.

Chiêu Ứng Từ- Đường Chi Lăng
(Còn nữa)
- Kỳ 2. Định hướng bảo tồn khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh
- Kỳ 3. Bảo tồn những giá trị “vật thể- phi vật thể”
- Kỳ 4. Thiết kế phát triển cho Gia Hội- Chợ Dinh trong môi trường đô thị hóa (1-Hạt nhân bảo tồn; 2- Cụm bảo tồn lồng ghép phát triển; 3- Mảng bảo tồn phát triển bền vững)
A Schema for the Conservation of Tube-Houses (Hanoi, Vietnam)
Ngo Minh Hung and Wong Yunn Chii
(Full paper- Presented in: CONSERVATION IN CHANGING SOCIETIES: Heritage development- International Conference 2006, Lueven, Belgium)
![]()
Abstract
The city of Hanoi is celebrating its 1000th anniversary in 2010. It is an ancient city with a structure based on both original Vietnamese and French colonial architecture. The tube-house, an ubiquitous typology in its urban context, is a vital built heritage that has been impacted by urbanization, socio-economic changes, and high population density. These changes affected both its architecture and housing function. There are no successful conservation projects of the tube houses and their precincts. This paper proposes schema, as a set of conservation strategies, for this traditional house typology based on its architectural features, urban and social function and land use. It argues that for a sustainable urban development that would retain the character of the city, a staged approach based on community participation and the clarification of the “Inside-to-Outside” intervention is required.
Management Model for Raising Environment Quality in Ancient Streets of Hanoi
Mô Hình Quản Lý nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môi trường Phố Cổ Hà Nội (Kỳ 1.)
(Tạp Chí Xây Dựng- số 6/2002, ISSN 0866-8762, trang 42-45)
Hà Nội là thành phố có nhiều di sản văn hóa phản ánh nghìn năm lịch sử. Khu phố cổ- cái nôi của Hà Nội ngày nay – nơi gìn giữ kiến trúc truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc… đã và đang thực hiện vai trò quan trong với các hoạt động kinh tế, thương mại đồng thời còn là trung tâm du lịch.
Từ khi có chính sáchđổi mới, quá trìnhđô thị hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân chính cho sự biến đổi môi trường. Mặt khác, hệ thống thể chế chưa bắt kịp tiến trình đô thị hóa nên phần nào ảnh hưởngđến kiến trúc cảnh quan chung của phố cổ và ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng cuộc sốngđô thị. Cùng với cả nước, Hà Nôi đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH, kinh tế- xã hội phát triển, cuộc sống dần được cải thiện, công tác quản lý càng phải được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng môi trương phố cổ.
Không gian kiến trúc cảnh quan và vấn đề tồn tại
Khu phố cổ nằm trong ranh giới hành chính của quận Hoàn Kiếm, diện tích khoảng 100ha thuộc 10 phường với tồng số dân lên tới 171.000 người (1998) và mật độ trên 32.000 người/km2, trong đó có nơi tập trung trên 1200 người/ha với diện tích 3m2/người. Hoạtđộng buôn bán, kinh doanh và nhu cầu cuộc sống đã lấn át phần lớn các không gian xanh còn lại của phố cổ bởi nó gây cản trở ít nhiều việc buôn bán và kiến trúc dần biến dạng. Trong khi đó, đất ở đây ngày càng có giá trị, thậm chí gần đây còn cao hơn một số thành phố lớn ở Châu Âu.
Quanh phố cổ hiện còn tồn tại một số không gian xanh giữa quần thể kiến trúc pha tạp lộn xộn với diện tích- mật độ rất thấp. Ở đây chỉ còn một lượng nhỏ cây xanh được trồng bên hè phố chật hẹp … như phường Hàng Bông chí có 142 cây to/ 7000 người. Phần lớn sân vườn trong ngôi nhà ống truyền thống đều bị xâm chiếm, sinh hoạt cộng đồng, lối sống văn hóa cungc như hệ thống cơ sở hạ tầng (cấp- thoát nước, VSMT, thu gom rác thải…) bị phá vỡ.
Ý nghĩa của không gian kiến trúc cảnh quan vô cung quan trọng, bởi giá trị của nó với cuộc sống: làm sạch không khí,điều hòa vi khí hậu, giảm tiếng ồn, tạo cảnh quan và là dấu ấn phản ánh rõ nét quá trình phát triển trải qua từng thời kỳ củađô thị.
Thực tế cho thấy, không gian kiến trúc cảnh quan khu vực phố cổ đang dần biến mất dưới hình thức này hay hình thức khác. Vì vậy, những không gian này cần phải được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị, nhằm cải thiện môi trường phố cổ, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội cung như thu hút khách du lịch trong giai đoạn phát triển sắp tới.
- Không gian kiến trúc cảnh quan trong ngôi nhà ống
Trong lịch sử phát triển, thì mỗi ngôi nhà ống gồm từ 2 đến 3 sân trong hay con gọi “tiểu môi trường cảnh quan” với mục đích phục vụ nghỉ ngơi- trồng cây cảnh, bài trí nghệ thuật theo phong cách riêng của chủ nhà. Nơi này thường được kết hợp với các phòng chức năng và khu phụ (bếp, nhà kho và khu vệ sinh), nó đảm bảo điều kiện sống tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm- nhiệt đới. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết những chức năng này đã bị chuyển đổi, gây ra những vấn đề phức tạp. Việc khôi phục các không gian này thực sự cần thiết bởi nó sẽ đảm bảo: (1) thông thoáng và lấyánh sáng tự nhiên; (2) cho hoạtđộng nghỉ ngơi, thư giãn; (3) cho sự phát triển và cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó,đây sẽ là thành phần chính cho hệ thống môi trường kiến trúc cảnh quan hoàn chỉnh của phố cổ trong tương lai.
- Không gian kiến trúc cảnh quan phố cổ
Dựa trên số liệu thống kê chưa đầy đủ và sự phân tích giữa bản đồ ghi chép năm 1873 với thời gian gần đây, thì môi trường cảnh quan phố cổ giảm đi nhiều. Trong tình hình hiện nay, phố cổ chỉ còn lưu giữ được một phần rất nhỏ thảm thực vật xanh như: vườn hoa Vạn Xuân (Hàng đậu), Phùng Hưng, Cửa Nam, Nam cầu Long Biên và đặc biệt là không gian kiến trúc cảnh quan hồ Hoàn Kiếm. Điều này cho thấy, đây là những không gian không thể thiếu trong cấu trúcđô thị của Hà Nội nói chung và của phố cổ nói riêng, bởi qua đó thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động sống hàng ngày với nhu cầu nghỉ ngơi và vui chơi của cộng đồng. Song vấn đề hiện nay là khu vực xanh này quá nghèo nàn chưa đủ hấp dẫn người sử dụng, nên chưa phát huy tối đa khả năng đối với lối sống đô thị hiện đại.
Vậy, liệu có thể phát huy không gian kiến trúc cảnh quan trong phố cổ hay không?
Qua khảo sát, một phần diện tích trong lõi các ô phố hiện chưa được sử dụng đúng mục đích hoặc bỏ hoang. Đã có nhiều dự án đề xuất cải tạo diện tích này thành nơi phục vụ cho sinh hoạt cộngđồng. Song hầu hết đến nay vẫn chưa trở thành hiện thực?. Do vậy, để phát huy tối đa hiệu quả không gian kiến trúc cảnh quan, nên chăng cần phải có cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích mọi nguồn lực của cộng đồng vào công tác bảo tồn trong thời gian tới.
- Cơ chế chính sách trong quản lý môi trường kiến trúc cảnh quan
Do tính chất đặc biệt của phố cổ trong tiến trình phát triển đô thị, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy về quản lý bảo tồn như: QĐ 70 BXD/KT-QH (1995); QĐ số 45/ QĐ-UB (1999); QĐ 1127- BXD/QLN (1994); QĐ 91/CP (1994) và QĐ 48/CP (1997)… bên cạnh những mặt tích cực của luật pháp là những hạn chế có tác động tiêu cực đến cấu trúc phố cổ và vai trò không gian kiến trúc cảnh quan chưa được chi tiết hóa. Sự thay đổi môi trường pháp quy cũng gây ra không ít khó khăn trong thực hiện quản lý.
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức để thực hiện cho công tác này còn nhiều vấn đề phải bàn. Bản thân người dân khó có thể phân biệt được cấp nào có thẩm quyền quản lý, trong khi rất nhiều cơ quan cùng tham gia giải quyết vấn đề cộng đồng. Thực tế chỉ ra rằng, những không gian cảnh quan vẫn tiếp tục bị lấn chiếm và sử dụng sai mục đích. Vậy thì nguyên nhân chính ở đâu? để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phân tích SWOT sẽ là một công cụ hiệu quả có thể xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa trong công tác quản lý kiến trúc cảnh quan phố cổ hiện nay.
Đối mặt với các vấn đề đô thị hóa thì sự cần thiết bảo tồn phố cổ lại càng cấp bách. PGS. TS Willi Zimmermann (AIT, 2001) thốt lên rằng: “Nếu không có biện pháp cấp bách, thì Hà Nội sẽ mất đi cội rễ của chính mình theo thời gian, mà qua đó thế giới biết đến các bạn”. Điều này nói lên không gian truyền thống nói chung, di sản văn hóa- lịch sử- tôn giáo đã và đang bị ảnh hưởng xấu bởi hoạt động kinh tế, phát triển công nghiệp du lịch và dịch vụ. Sự suy thoái môi trưởng bởi: tiếng ồn, ô nhiễm không khí- nước- chất thải rắn gây mất vệ sinh chung là mối đe dọa lớn đối với sức khoe cộng đồng, đặc biệt những cư dân thu nhập thấp trong lõi phố cổ. Nguyên nhân chung do: mật độ dân cư tập trung lớn, chiều cao trung bình thấp, mật độ xây dựng dày đặc dẫnđến phần lớn đất đai trong khu vực trở thành diện tích sinh sống và buôn bán, công trình kiến trúc xuống cấp trầm trọng đi đôi với cơ sở hạ tầng thấp kém và không gian kiến trúc cảnh quan bị hủy hoại… Thậm chí trong rất nhiềuô phố không còn tồn tại lõi xanh nữa.
Upgrading environment quality in craft villages
Nâng Cao Chất Lượng Môi Trường các Làng Nghề
(Tạp chí Xây dựng- số 11/2001, ISSN 0866-8762, trang 29-30)
Quá trình đô thị hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước phát triển trong đó có Việt Nam. Điều này cũng tác động không nhỏ đến quá trình thay đổi của xã hội và môi trường đô thị, nông thôn, đặc biệt là đối với môi trường các làng nghề, một thành phần không thể tách rời quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn, đồng thời góp phần làm đa dạng và phong phú truyền thống văn hóa của đất nước.
Dưới những tác động tích cực, các làng nghề như gốm Bát Tràng (Gia Lâm- Hà Nội), sắt Đa Hội, giấy dó Phong Kê (Bắc Ninh), mộc Vân Hà (Đông Anh- Hà Nội)… đang vận động để giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa được chuyển tải qua các sản phẩm truyền thống. Tuy nhiên, nhiều phương thức sản xuất hiện nay đang gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng khong nhỏ tới các khu vực lân cận, thể hiện:
- Ô nhiễm môi trường không khí gây ra các loại bệnh: hô hấp, viêm xoang, bướu cổ, bụi phổi silic và 90% số lao động thưỡng xuyên trong các làng nghề sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp mắc bệnh.
- Nước thải không được xử lý chứa các loại hóa chất độc hại (ví dụ như chất thải bắt nguồn từ sơn PU, PE của Đài Loan); từ các cơ sở sản xuất (Bát Tràng có hơn 700 cơ sở) đổ trực tiếp vào hệ thống cống đã xuống cấp để chảy ra sông chính, gây các bệnh về tiêu hóa và làm mất cân bằng sinh thái cho khu vực dân cư hai bờ sông. Môi trườngđấtởđây bịô nhiễm nghiêm trọng.
- Mức độ khí thải đều ở mức báo động, do việc sử dụng chất đốt thường xuyên cao sẽ là nguy cơ gây ra hiện tượng bất ổn về thời tiết và vi khí hậu, bởi sự nóng lên của khu vực (Heat island). Nhiệt độ trung bình ở đây thường cao hơn xung quanh từ 1 đến 3 độ, dẫn đến mất cân bằng sinh thái khu vực.
- Nền kinh tế mở cửa đã làm cho các cơ sở sản xuất cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và mẫu mã, đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này tạo nên mặt bằng giá cả ngày càng hợp lý cho người tiêu dùng, đem lại những hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội vô cùng to lớn. Mặt khác, môi trường kinh doanh- sản xuất buộc các chủ sản xuất đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, mà không hề quan tâm đến môi trường xung quanh- nơi sẽ đảm bảo một cuộc sống và không gian sản xuất lâu dài.
Trong khi người dân khu vực nói chung, chủ cơ sở sản xuất và lực lượng lao động nói riêng còn thiếu thông tin thực tế về tình trạng môi trường, cũng như nhận thức về vấn đề này còn hạn chế và chưa đầy đủ thì sự phối hợp từ nhiều phía của các cấp chính quyền địa phương là rất cần thiết, như: khuyến khích cải tiến công nghệ sản xuất; trồng cây xanh và khơi thông mương cống…
Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức phức tạp, phương pháp quản lý môi trường thiếu tínhđồng bộ và khoa học, nên chính quyền địa phương rất khó chủ động giải quyết các vấn đề cấp bách về môi trường khí, nước và đất v.v… chủ yếu trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cơ quan chuyên ngành, dẫnđến môi trường các làng nghề ngày càng trở nên suy thoái nghiêm trọng. Đối với các khu vực này cần có hệ thống quy chế riêng, tổ chức chuyên ngành dựa trên phương pháp quản lý khoa học, logic và hiệu quả mới có thể giúp cho địa phương và cơ sở duy trì và phát triển các loại hình văn hóa đặc thù này tốt lên được.
Vì vậy, để nâng cao chất lượng môi trường làng nghề và bảo đảm sự cân bằng sinh thái, cần có những định hướng chiến lược và những giải pháp cụ thể lâu dài, như:
- Thành lập một Ủy ban chuyên trách về môi trường các làng nghề với sự tham gia của các cơ quan liên quan tới vấn đề môi trường, đứng đầu là Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH & CN và Bộ TN & MT), chính quyền địa phương và đại diện các thành phần xã hội, người dân làng nghề và khu vực lân cận. Ủy ban nay có nhiệm vụ:
+ Thực hiện khảo sát hiện trạng và đánh giá những tác động do ô nhiễm gây ra đối với sức khỏ của cộng đồng và sự mất cân bằng sinh thái trong từng làng nghề nói riêng và cả vùng nói chung. Công việc này cần được duy trì thường xuyên và do cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với địa phương cùng thực hiện.
+ Xác định mục tiêu cụ thể cho các làng nghề thông qua việc thực hiện và áp dụng các mô hình quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch chi tiết, phân loại các hình thức sản xuất để bố trí hợp lý, quản lý một cách chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, phối hợp và xử lý các chất thải đểđạt yêu cầu cho một môi trường sạch. Quy hoạch không gian, mặt nước, khoảng không gian cách ly và các công trình dân dụng cần thiết theo nhu cầu thực tế, dựa trên quy chuẩn, quy phạm, cũng như xác định quy mô phù hợp với từng loại ngành nghề và quỹ đất hiện có của địa phương.
+ Nghiên cứu, tính toán và đưa ra các biện pháp kinh tế môi trường (measures of environmental economic) để làm nền tảng cho hoạch định chính sách môi trường cho từng loại mô hình sản xuất, điều này sẽ giúp các chủ sản xuất đầu tư một cách hiệu quả cho quy trình sản xuất, cải tạo môi trường và giảm giá thành sản phẩm, đảm bảo chất lượng khu vực và quốc tế.
+ Đề xuất những quy chế và chính sách lên các cấp có thẩm quyền nhằm khuyến khích các cơ sở sản xuất cóý thức bảo vệ môi trường, như giảm thuế đối với các sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường, xử phạt hoặc đóng cửa các nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng… nhằm ngăn chặn triệt để các nguồn có thể gây ô nhiễm trước mắt và trong tương lai.
+ Tuyên truyền và phổ biến rộng rãi tới từng người dân qua phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục địa phương và các tổ chức đoàn thể về tình trạng suy thoai môi trường và hậu quả do nó gây ra. Nâng cao hiểu biết và nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề phức tạp, nghiêm trọng này, để Ủy ban các làng nghề xây dựng những kế hoạch hành động cải tạo môi trường cấp bách cũng như lâu dài.
+ Hoạt động như những nhà tư vấn về chuyên môn và áp dụng công nghệ xử lý bụi, tiếng ồn, chất thải … cho các cơ sở sản xuất và đưa ra các biện pháp an toàn cho lực lượng lao động, để đảm bảo sức khỏe cho việc tái sản xuất. Đồng thời trực tiếp trợ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược địa phương và trung ương những kế hoạch phù hợp với tình hình phát triển chung để đảm bảo sự phát triển bền vững (sustainable development).
+ Giúp địa phương tiếp tục duy trì chương trình phủ xanh quanh các cơ sở sản xuất, hai bên đường, tiến hành cải tạo hệ thống cấp thoát nước, đường giao thông và hạn chế tối đa ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người nói riêng và đả bảo cân băng sinh thái nói chung. Đặc biệt, áp dụng các phương pháp sinh học, nhằm cải tạo lại lô đất bị nhiễm độc như sử dụng các loại vi sinh (composting), vi sinh vật để làm cho đất trở nên màu mỡ, tơi xốp và làm tăng giá trị vốn có của đất đai.
Giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường cần tiến hành đồng thời nhiều biện pháp, xác định việc gì cần làm trướcđể có thểđưa ra những hướng giải quyết bám sát thực tế. Coi sự phát triển bền vững của các làng nghề như một cấu trúc, làm cơ sở để xác định chính sách phát triển kinh tế phù hợp với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Và chính sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, của cộng đồng các làng nghề sẽ tạo nên sự phát triển bền vững.
Chập chững Đông – 2001
Necessary elements in current archirects’ training curricula
Những Yếu Tố Cần Thiết Trong Đào Tạo Kiến Trúc Sư Hiện Nay.
(Tạp Chí Xây Dựng số 5/2001- ISSN 0866-8762, trang 59-60)
Hàng năm, số kiến trúc sư (KTS) ra trường ngày càng nhiều từ các trường công lập như đại học Kiến trúc, đại học Xây dựng Hà Nội, đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh và một số trường đại học dân lập khác. Tuy nhiên, một số lượng không nhỏ các KTS mới ra trường chưa thể đáp ứng các đòi hỏi và nhu cầu phát triển của nền kinh tế hiện nay. Nhiều người trong số họ đã phải bỏ nghề, hoặc chuyển sang hoạt động trong một số lĩnh vực hoàn toàn khác đối với kiến trúc.
Quá trình đô thị hóa ngày càng tăng nhanh tại phần lớn các nước đang phát triển như Thái Lan, Băng La Đét… trong đó có chúng ta. Thu nhập, cũng như điều kiện sống của người dân trong nước ngày càng được cải thiện do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Song điều này cũng góp phần làm cho bộ mặt kiến trúc càng trở nên phong phú và đa dạng đến mức “không thể nhận ra” yếu tố bản sắc dân tộc mà chúng ta vẫn thường nhắc tới.
Một câu hỏi được đặt ra: Truyền thống có phải do kiến trúc sư tạo ra hay không? Điều này không hoàn toàn chỉ dựa trên khả năng của người làm kiến trúc, mà nó phụ thuộc rất lớn vào quá trình cũng như mô hìnhđào tạo hiện nay của các trường, và một phần dựa trên lĩnh vực quản lý đô thị. Chúng ta biết rằng, theo quy luật của hệ thống quản lý chất lượng (Quality Management System) thì muốn có đầu ra (Output) tốt về chất lượng, cần phải có đầu vào đủ tiêu chuân (Input). Mặt khác quá trìnhđào tạo cũng rất quan trọng cho mỗi KTS hành nghề. Trong lĩnh vực quản lý sản xuất và chất lượng, thế giớiđều sử dụng tiêu chuẩn ISO 9001, 9002; trong quản lý môi trường là ISO 14001, điều này chứng tỏ rằng hệ thống quản lý nghiêm ngặt và logic của ISO rất thành công và mang lại hiệu quả lớn cho bản thân các nhà sản xuất; quản lý và sự phát triển của đất nước.
Quay lại với mô hình quản lý và đào tạo ở nước ta, phải chăng chưa thực sự hiệu quả? Tất nhiênđiều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như trìnhđộ giáo viên, khả năng truyền đạt, giáo trình dạy học, những quy định của Bộ Giáo dục và của trường, hệ thống thư viện và số giờ cần thiết cho đào tạo KTS trong thời gian dài (5 năm) v.v..
Trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực, người taáp dụng các biện pháp khác nhau khi thành lập một hệ thống, mô hình như: Simulation Method hay Life Cycle Assessment để kiểm soát và đánh giá những yếu tố và vấn đề trong toàn bộ quá trình thực hiện. Liệu rằng điều này có thể xảy ra trong lĩn vực đào tạo KTS ?. Có thể lắm chứ, song nó đòi hỏi nhiều yếu tố liên quan đến quản lý mà các nước đang phát triển gặp phải như: Trách nhiệm (Accountability), Tính công khai (Transparency) và Quy định (Institutions).
Ở đây xin nêu ra một mô hình đào tạo hiệu quả tại Học viện Công nghệ Châu Á- Thái Lan (Asian Institute of Technology- AIT- Thailand) đó là mô hình tổ chức phân tán (decentralization) với số lượng giáo viên chính thức (permenence faculty) trong mỗi khoa không nhiều (từ 3 đến 4 giáo viên), cùng số lượng giáo viên được mời dạy (visiting faculty) tùy theo từng môn học trong mỗi kỳ (term). Các giáo viên giỏi có trách nhiệm đảm bảo nội dung và số giờ dạy một cách nghiêm túc. Ngoài số môn bắt buộc, sinh viên cònđược học các môn yêu thích của từng giáo viên trong bất kỳ khoa nào trong trường và sinh viên sẽ phải hoàn thành tất cả các bài tập và đọc tài liệu do giáo viên yêu cầu. Trong thi cử, AIT áp dụng hai kiểu thi: Học thuộc lòng (Closed book) và hiểu biết (Openned book). Mỗi kiểu thi có mức độ khác nhau, song một điều tối kỵ đó là việc quay cóp trong khi thi. Đặc biệt, hệ thống điểm áp dụng rất nghiêm khắc (A: 4,0; B+: 3,5; B: 3,0; C+: 2,5; C: 2,0 và D: 1,5) và số điểm tuyệt đối (A) trong lớp là rất ít. Sau 3 học kỳ nếu điểm dạt 2,75 trở lên mới được làm luận văn tốt nghiệp (thesis). Còn dưới điểm chuẩn thì buộc phải làm nghiên cứu (Research), điều này không áp dụng đối với trường Quản lý- SOM thuộc AIT. Một điều cho tháy rằng, nếu có hệ thống nghiêm ngặt trong quản lý đào tạo tại mỗi trường đại học cho cả giáo viên và sinh viên, thì hiệu quả đào tạo KTS là khả quan. Khi tốt nghiệp, hõ sẽ thích nghi với những môi trường làm việc khác nhau, cho dù khó khăn đến nhường nào đi chăng nữa.
Thời gian học tại trường đại học hầu hết các KTS không được trang bị đầy đủ kiến thức, không chỉ về chuyên môn mà còn về kiến thức xã hội. Màđiều này trong tương lai sẽ giúp họ một khả năng biết kết hợp các yếu tố thực tiễn lại với nhau, tạo nên những tác phẩm có ích và khả thi trongđời sống. Rất nhiều nhà nghiên cứu, tổ chứcđã phải lên tiếng rằng: KTS hiện nay không biết sáng tác ! Họ chỉ biết tập trung vẽ làm sao chođẹp, hoặc cho xong những công trình trên máy tính (Autocad, 3D studio…) mà không biết rằng, máy tính chỉ là một công cụ thể hiện giúp con người sáng tácở vài khâu rất nhỏ trong toàn bộ quá trình sáng tạo và thiết kế- xây dựng mà thôi. Khác với loại hình đào tạo của các nước có nền kiến trúc lớn trên thế giới nh: Pháp, Italia, Mỹ… các KTS của ta rất khó có thể bảo vệ được chính “Con đẻ của mình” bằng kiến thức đơn giản với những câu hỏi bắt đầu bằng: Cái gì? (What); Tại sao? (Why); Thế nào? (How); Khi nào? (When).
Kinh nghiệm cho thấy, khi tham gia các giải thưởng quốc tế, rất ít người trong số họ có thể hòa nhập được với bạn bè bởi sự nhìn nhận các vấn đề mang tính tổng quát và hệ thống rất kém (hoặc không có), mà chỉ tập trung vào yếu tố kỹ thuật đơn thuần (chưa kể đến khả năng ngoại ngữ). Phải chăng doảnh hưởng của quá trìnhđào tạo?. Khía cạnh này chúng ta cần bàn thêm.
Trong những năm sắp tới lực lượng KTS trẻ vô cùng cần thiết và quan trọng. Vì họ là lớp người kiến thiết, duy trì và phát triển nền kiến trúc dân tộc trong tương lai, là người thực hiện những mong muốn xây dựng đất nước dưới sự dẫn dắt củaĐảng và Nhà nước. Thiết nghĩ, sự nghiệp đào tạo KTS có lẽ cần bắt đầu ngay từ trong các trường đại học, vì đó là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển về mọi mặt (thể- chất) của mỗi sinh viên khi bước chân vào nghề. Do đó, xin được đề xuất cụ thể một số điểm sau đây:
1. Các trường đào tạo KTS cần có các giải pháp tích cực, khuyến khích các giảng viên yêu nghề hơn nữa, đồng thwofi nâng cao kỹ năng sư phạm cho mỗi chuyên ngành cụ thể.
2. Áp dụng hệ thống đánh giá chất lượng giảng dạy trong thời gian cụ thể, đối với tất cả các giảng viên trong trường, để đảm bảo thời gian lên lớp cũng như nội dung cần truyền đạt tới sinh viên.
3. Yêu cầu các giảng viên tăng cường kiểm tra các bài tập chuyên môn, nâng cao kiến thức tổng hợp cho sinh viên, bằng việc cung cấp các tài liệu tham khảo cần đọc trong thư viện trường, hoặc của bản thân và bắt buộc họ phải hoàn thành.
4. Áp dụng hình thức trình bày- báo cáo (presentation) và bảo vệ các đồ án môn học (mini projects) và bài tập nhóm (group assignements) trước hội đồng, do giảng viên thành lập, để nâng cao khả năng lỹ luận, phê bình cũng như kiến thức tổng quát.
5. Cần xử lý nghiêm khắc những vi phạm của sinh viên theo qui định của Bộ Giáo dục & Đào tạo và nhà trường đề ra.
Giáo sư Henry Sanoff (AIA- 2000) giảng viên trường Kiến trúc North Carolina State University- Canada kết luận: Sự tham gia của các KTS trong hoạtđộng của cộng đồng, tạo nên một khả năng cần thiết của chính cộng đồng và cơ hội để trở thành sản phẩm của xã hội. Điều này chứng tỏ KTS trẻ là đội ngũ cần phải được quan tâm đúng mức hơn nữa từ Đảng, Nhà nước và các ban, ngành liên quan đến “sự nghiệp trồng người”, và “sự duy trì, phát triển” bản sắc kiến trúc của dân tộc.
Chớm hè AIT-Thailand, 2001

