An industry planning model (small,medium-scale) towards sustainable development
Mô hình qui hoạch công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp hướng tới Phát triển bền vững
(Tạp chí QH, năm 2002)
Những năm qua phát triển ngành công nghiệp là một trong những Ngành được Đảng, Nhà nước và các Ban Ngành giành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt chính sách ưu đãi, khuyến khích và thu hút đầu tư cho lĩnh vực chiếm ưu thế thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chiến lược này được khẳng định trong qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tới năm 2010 như sau: “Mục tiêu lâu dài thực hiện CNH, HĐH từ nay cho đến năm 2010 là biến đổi nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hình thành nền kinh tế phát triển năng động, tự chủ, đủ sức cạnh tranh, hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam á và thế giới”. Trong đó, quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng lấy CNH-HĐH phải theo hướng xã hội chủ nghĩa, là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế; đồng thời lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho “phát triển nhanh và bền vững”.
Nhìn chung, phát triển ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) được qui định dựa trên cơ sở phân cấp quản lý (decentralisation) theo NĐ số 36/CP (24/4/1997); TT số 04 BXD/KTQH (30/7/1997) và số 08/TT-KHĐT (29/7/1997)..v.v. nhằm phát huy tối đa các nguồn lực từng vùng. Do đó, nhiều Tỉnh- Thành phố đã và đang tiến hành xây dựng qui hoạch phát triển CN-TTCN trước mắt cũng như lâu dài cho mình làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng “nội lực” bản thân hoà cùng xu thế phát triển chung của đất nước.

Yếu tố “Nội- Ngoại” lực của cụm CN-TTCN TP. Thái Nguyên
Thực tế cho thấy chủ trương này có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan từ các qui hoạch Ngành, qui hoạch tổng thế kinh tế- xã hội đến lập qui hoạch-dự án các khu- cụm CN-TTCN.v.v. gây nên. Hàng loạt các cụm CN-TTCN ra đời với hình thức “trăm hoa đua nở” cả về qui mô lẫn hình thức, trong đó không ít dự án mới chỉ tính toán đến hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi và sao nhãng đến lĩnh vực môi trường sinh thái- cảnh quan thiên nhiên. Hậu quả là các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn và chất thải công nghiệp, đặc biệt là phải kể đến hiện tượng “nóng cục bộ” (heat island) trong các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng gây mất cân bằng sinh thái, huỷ hoại môi trường ngày càng nghiêm trọng và điều chắc chắn là rất khó có thể khôi phục lại những gì đã mất. Câu hỏi đặt ra (?) : Liệu cái “được” từ cụm CN-TTCN so với cái “mất” của môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên thì cái nào lớn hơn?. Nên chăng, chúng ta cần phải xem xét vấn đề này khi còn trong giai đoạn nghiên cứu lập dự án qui hoạch? hơn hết vẫn là: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Khai thác cụm CN-TTCN hiệu quả và bảo vệ môi trường chính là những thành phần chính yếu trong mô hình qui hoạch cụm CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững, đồng thời là giải pháp toàn diện cho môi trường xã hội “xanh, sạch, đẹp” và nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị-nông thôn, phát triển dài lâu. Do vậy, một minh hoạ cụ thể cho xu hướng này bước đầu được nghiên cứu thông qua dự án qui hoạch cụm CN-TTCN tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và đã được phê duyệt theo QĐ số 2850/QĐ-UB của UBND Tỉnh Thái Nguyên ngày 23/9/2002.
Như chúng ta đã biết, quy hoạch chung xây dựng thành phố Thái nguyên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 802/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1996 đã xác định: “…là Tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là thành phố công nghiệp, là trung tâm của vùng Việt Bắc, đầu mối giao thông của các tỉnh miền núi phía Bắc và có vị trí chiến lược về an ninh và quốc phòng…”. Kể từ đó đến nay, thành phố Thái Nguyên đã phát huy nội lực, tập trung thúc đẩy phát triển mọi nguồn lực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Năm 2001, tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,8%, GDP chiếm 71,4%, công nghiệp và XDCB chiếm 46%, dịch vụ 45,2%, nông-lâm nghiệp chiếm 8,8%. Vừa qua, những nỗ lực ấy lại được khẳng định khi thành phố Thái Nguyên chính thức đuợc công nhận là đô thị loại II đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Thành phố (19/10/1962- 19/10/2002).
Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên
Cụm CN-TTCN thực hiện trước những đòi hỏi và thách thức của quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh ở khu vực thành thị, ngoài những mặt tích cực thì mặt trái là những vấn đề tiêu cực về ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, an ninh- xã hội phức tạp bởi sự phát triển tự phát, phân tán của các ngành-nghề và dân cư…Hơn nữa hoạt động CN-TTCN của thành phố Thái Nguyên có qui mô sản xuất nhỏ, thiết bị công nghệ “già cỗi” và hiệu quả chưa cao. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội nghị lần thứ XIV của Đảng bộ Tỉnh Thái Nguyên đã xác định trong 5 năm 2001-2005 là: “Phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng Thành phố giàu về kinh tế…” nên nhu cầu thiết yếu của thành phố về hình thành xây dựng các cụm CN-TTCN trên địa bàn được đặt ra nhằm thu hút đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp được khuyến khích làm chuyển biến tích cực nền kinh tế đồng thời làm phong phú thêm các loại hình công nghiệp, kiến trúc và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
Cụm CN-TTCN này có qui mô vừa, bao gồm các ngành nghề phụ trợ cho CN luyện kim và cơ khí, chế tạo động cơ, SX hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm sản và hơn nữa“sản phẩm sản xuất ra sẽ thay thế hàng nhập khẩu, phần lớn sẽ phục vụ cho sự phát triển của khu vực và xuất khẩu hàng công nghiệp có ưu thế cạnh tranh”. Bên cạnh đó, việc xác định các loại hình CN trong cụm CN-TTCN luôn tuân thủ và bám sát thông tư số 08/TT-KHĐT (29/7/1997) của Bộ Công nghiệp và quyết định số 5207/2001/QĐ-UB (31/12/2001) của UBND Tỉnh Thái Nguyên về chương trình phát triển CN-TTCN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005.
(*) Quan điểm chung cho cụm CN-TTCN này là lấy (i) hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. (ii) Tạo việc làm nhiều hơn, số lao động tăng thêm hàng năm, giảm đáng kể thất nghiệp; (iii) Cải thiện chất lượng cuộc sống, môi trường đô thị; (iv) Đổi mới căn bản tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao. Phát triển các hình thức liên doanh liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, cá thể và các công ty nước ngoài.
(*) Mục đích chính: (v) cụm CN-TTCN hỗ trợ phát triển ngành Công nghiệp có vai trò là động lực và nòng cốt quá trình HĐH-CNH khu vực; (vi) Khai thác triệt để các nguồn nội lực và thu hút sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực (input), tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ tiến tiến, hiện đại và hội nhập với thị trường khu vực và thế giới (hình vẽ 1).
(*) Trên cơ sở nhu cầu phát triển, quan điểm, mục đích mà việc lựa chọn những ngành công nghiệp theo nhóm công nghiệp chủ đạo, ưu tiên như: 1) công nghiệp VLXD; 2) cơ khí phục vụ nông lâm; 3) Sản xuất và gia công thép nguội; 4) chế biến nông- lâm sản thực phẩm và; 5) sản xuất hàng tiêu dùng. Quan trọng hơn hết là phải đảm bảo mọi chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do Nhà nước qui định đối với các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng.

Mô hình CN-TTCN hướng tới phát triển bền vững
Đối với xu hướng phát triển bền vững thì sự quan tâm đến mọi lĩnh vực, đa ngành là rất cần thiết bởi mô hình “simulation” hình thành sẽ đánh giá toàn bộ ảnh hưởng diễn ra trong mọi quá trình vận hành của cụm CN-TTCN nói chung và từng nhà máy, XNCN nói riêng. Ngoài những yêu cầu đối với qui hoạch cụm CN-TTCN theo quyết định số 322-BXD/ĐT của Bộ xây dựng về việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng thì dự án còn quan tâm thêm những lĩnh vực như:
+ Chuẩn bị công tác qui hoạch
+ Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động qui hoạch (Output)
+ Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
a. Chuẩn bị công tác qui hoạch
Công tác chuẩn bị qui hoạch đòi hỏi dựa trên những phản ảnh thực tế để rồi lồng ghép một cách hiệu quả, tương thích với những khía cạnh kinh tế- xã hội, xây dựng, quản lý đô thị và môi trường. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các cụm CN-TTCN (tính đến tháng 8/2002 cả nước có tổng số 124 cụm CN-TTCN qui mô vừa và nhỏ trên 19 Tỉnh, Thành phố) chưa quan tâm đầy đủ đến sự cân bằng giữa “cung- cầu” do sự chênh lệch hiện nay giữa hai thái cực này càng trở thành chủ đề chính và cần có sự tham gia của nhiều Ngành bởi bất kỳ sự biến động giữa “cung-cầu” đều ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững nói chung. Theo số liệu bước đầu về nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên cho thấy đây chính là tiềm năng tiềm ẩn lớn trong khu vực bởi cụm CN-TTCN đã thu hút sự quan tâm sâu sát của họ ngay từ giai đoạn lập qui hoạch, đó cũng là một yếu tố tích cực của xu hướng này. Vì vậy, việc sắp xếp, bố trí các XNCN và các chức năng khác cần phải tuân theo những nguyên tắc, tổ hợp về qui hoạch công nghiệp (theo kiểu hợp khối liên tục, đơn nguyên, chu vi…hình vẽ 2). Tuy nhiên, tổ chức qui hoạch này chưa thực sự đi vào cuộc sống khi chưa tính toán và xem xét cẩn trọng đến hiện tượng “nóng cục bộ” trong lõi cụm CN và đô thị.

(*) Hiện tượng “nóng cục bộ” (heat-island)
Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân tác động làm biến đổi khí hậu, gia tăng hiệu ứng nhà kính, hấp phụ hâm “nóng” lõi các đô thị hiện đại và cụm CN vào ban ngày và tán “lạnh” đột ngột vào ban đêm, hậu quả là tạo ra những cơn lốc xoáy trong khu vực nội thị, trong KCN rồi bốc lên cao biến toàn khu vực như một chảo nóng-lạnh khổng lồ mà con người sẽ phải gánh chịu cùng với những hiểm họa khôn lường.
Phương án qui hoạch cụm CN-TTCN ở thành phố Thái Nguyên bước đầu được thiết kế trên quan điểm tôn trọng địa hình thiên nhiên, đây chính là ưu điểm mà cảnh quan thiên nhiên vùng Việt Bắc ban tặng. Song song là tỷ lệ “xanh” hoá tăng và phân bố linh hoạt- hài hoà với tổng thể cụm CN-TTCN có tác dụng làm giảm, thậm chí có thể hoá giải được hiện tượng nóng lên cục bộ và làm cho môi trường ngày càng trở nên lý tưởng. Và phương án có hướng lồng ghép các chức năng với các đồi cây xanh sinh thái trở thành quần thể kiến trúc cảnh quan sinh động trong hệ sinh thái toàn vùng. Tuy nhiên, giải quyết đồng bộ vấn đề này phụ thuộc trực tiếp giữa các mối liên hệ về cơ cấu phân khu chức năng cụm CN-TTCN với cộng đồng dân cư xung quanh sao cho khai thác tối đa các nguồn lực: (1) nguồn nguyên liệu; (2) nguồn nhân lực; (3) nguồn tài nguyên thiên nhiên và (4) khả năng quản lý, vận hành cụm CN-TTCN song hành với hệ thống hành chính Tỉnh, Thành phố. Do đó, phương pháp mô phỏng và đánh giá sự giao thoa nguồn lực sẽ có thể là công cụ mang tính chiến lược, hữu hiệu cho cụm CN-TTCN này.
b. Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động từ hoạt động của cụm CN-TTCN
“Simulation” được hiểu như một mô hình khép kín được tính toán từ: 1)đầu vào (input) của nguồn (hình vẽ 3); 2)những sản phẩm chính- phụ thông quá trình vận hành; 3)đầu ra là thành phẩm cuối cùng của mỗi dây chuyền. Bên cạnh đó, hoạt động của cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên sẽ có những ảnh hưởng và tác động nhất định qua hai loại dây chuyền chính đó là: dây chuyền tổng thể và dây chuyền trong mỗi XNCN theo từng tính chất, loại hình và đặc điểm chung của chúng.
(*) Dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN
Mục tiêu của dây chuyền đặt ra gắn liền với tiêu chí phát triển chung cụm CN-TTCN sao cho tác dụng, ý nghĩa của nó đóng góp tích cực vào tiến trình sản xuất qua đó tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư khu vực, một số mục tiêu đó là:
+ Bảo vệ môi trường phát triển bền vững đô thị và vùng lân cận
+ Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư
+ Giải quyết triệt để hiện tượng “nóng cục bộ”
+ Sử dụng hiệu quả nguồn lực, và xử lý chất thải công nghiệp
+ Hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và gần gũi với thiên nhiên (green productions và environmental friendly)
+ Tạo hành lang pháp lý nổi trội cho hoạt động, hấp dẫn đầu tư vào cụm CN-TTCN
Những điều này luôn gắn liền với sự tồn tại lâu dài cụm CN-TTCN bởi những ràng buộc nhất định có ý nghĩa thúc đẩy nhanh quá trình HĐH-CNH khu vực. Qui hoạch bước đầu xem xét, xác định và định tính những yếu tố bất lợi có thể khi đưa vào vận hành bằng cách phân loại nhà máy theo múc đô ô nhiễm như các XNCN: (1) sạch ; (2) có thể gây ô nhiễm; (3) ít gây ô nhiễm; (4) ô nhiễm và sau cùng các “chất thải đã qua sử dụng triệt để” được đưa vào khu xử lý làm sạch nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào hệ thống thoát chung của Thành phố thông qua hệ thống quan trắc (monitoring) và bảo vệ tối đa, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên được diễn hoạ ở hình vẽ 3.
Phải nói rằng, việc bố trí các hình thái kiến trúc CN ở đây sẽ tạo nên một bộ mặt kiến trúc- cảnh quan đô thị khang trang, hiện đại phù hợp, hài hoà với công năng, cụm dân cư và đặc biệt là tuyến quốc lộ 3 huyết mạch liên kết Thái Nguyên với Hà nội nói riêng và vùng Việt Bắc nói chung. Để tránh lặp lại trường hợp trên tuyến quốc lộ 5, cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên được kết nối những dải cây xanh cách ly cùng với khoảng lùi lớn rất linh hoạt cho quá trình phát triển đô thị cũng như khả năng nâng cấp, mở rộng quốc lộ 3 tới năm 2010.

(*) Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN
Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN là thành phần cấu thành nên dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN này, nó được lồng ghép thích hợp vào trong vòng quay chung và đóng góp vào sự thành công của mô hình phát triển bền vững tương lai. Mỗi dây chuyền đó cần phải được tính toán thông qua các tiêu chí cụ thể về: (1) công nghệ; (2) hiệu quả kinh tế; (3) chất lượng sản phẩm ; (4) quá trình vận hành, bảo trì và (5) niên hạn. Để có thể xuất khẩu sản phầm có chất lượng và hội nhập quốc tế thì việc khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000, 9001, đặc biệt ISO 14000 hay hệ thống EMS (Environmental Management System) sẽ làm tăng hiệu quả khai thác dây chuyền khép kín cũng như dây chuyền tổng thể vô cùng lớn.
c. Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
ở từng giai đoạn phân kỳ sẽ phân định những tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết nhằm đưa ra những đánh giá xác thực tại thời điểm đó, qui trình này sẽ được thực hiện liên tục và lâu dài trong toàn bộ quá trình hoạt động cụm CN-TTCN. Dựa trên những kết quả từ các trạm quan trắc “monitoring” phối kết hợp với cơ quan chuyên ngành để đưa ra những điều chỉnh cụ thể nhằm làm tăng giá trị và thời gian hoạt động cụm CN như đã định từ thửa ban đầu đảm bảo thành công cho mô hình phát triển bền vững.
Qui hoạch chi tiết Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên là minh chứng cho xu hướng phát triển cho sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với ngành công nghiệp, lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế cho quá trình HĐH-CNH. Đặc biệt mô hình CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững ít nhiều có tác động giảm thiểu nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển đô thị-nông thôn trong giai đoạn mới của đất nước.
+ Tài liệu tham khảo
1. Statistic publishing house, “Master plan of sectors and National programs in Vietnam to the years after 2000”, Hanoi, 12.1997.
2.Bộ xây dựng. Quy hoạch quản lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt nam, Nhà xuất bản xây dưng, Hà nội, 1998.
3. NMH, QHCT cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên, Viện Quy hoạch ĐT-NT, Hà nội, 6.2002.

