Viet A+

Vietnam Architecture Plus

“Riverside City” Indispensable Trend in Urban Development

Thành phố bên sông xu hướng tất yếu của phát triển đô thị

(Construction Journal, 2002/ Tạp chí Xây dựng, 2002)

Đầu những năm 70, mọi vấn đề liên quan tới các con sông đã gây nhiều điều đáng chú ý ở châu Âu, và châu Mỹ và điều này vẫn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi theo chiều hướng khác nhau cho đến ngày nay. Bởi quanh các con sông, bờ sông là hệ môi trường sinh thái, không gian đô thị- vùng và các dấu ấn lịch sử đã và đang tồn tại nơi có những dòng chảy- êm dịu- hiền hoà hay dữ dội. Vào thời điểm này, đô thị đã phát triển và lan toả khắp mọi nơi, mọi chỗ với những tiềm năng sẵn có của từng vùng, tạo nên mạng lưới đô thị dầy đặc trên thế giới. trong đó rất nhiều đô thị coi những dòng sông như một phần “cơ thể đô thị” không thể tách rời. Vì vậy, phát triển đô thị bên sông trở thành xu hướng mới của nhiều quốc gia trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. những lĩnh vực quan tâm chính trong hình thức đô thị này được tập trung chủ yếu vảo: môi trường sinh thái (ecology), nguyên tắc thẩm mỹ (art principles) và quy hoạch sử dụng đất kết hợp với điều kiện địa lý nhằm bảo đảm sự phát triển bên sông một cách bền vững khi qua các thành phố hay ngoại vi lân cận.

Cùng thời gian, một nghiên cứu tổng hợp về 15 con sông (arno-florence; canals-venice; amstel, canals- amsterdam; seine-paris; seine, oise và marne-paris region; saone,rhone-lýon; limmat, sihl-zurich; thames-london; lea-london; ruhr-ruhr region; rhine, meuse-rotterdam; tyne-tyneside; potomac- wasington, d.c; charles-boston và hudson-newyork) và thành phố bên sông trên thế giới được thực hiện bởi mối đe doạ suy thoái, phá vỡ cân bằng sinh thái đã trở thành một vấn đề mang tính quốc gia và toàn cầu. Thêm vào đó, cách mạng công nghiệp bùng nổ cũng là thời điểm thế giới bước vào một kỷ nguyên suy thoái môi trường và con người thiếu nhận thức về môi trường dẫn đến mức độ nhiễm càng thêm trầm trọng và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Ví dụ cho thấy, ô nhiễm nguồn nước ở một vài nơi đã có những tác động trực- gián tiếp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng và sự thịnh vượng (welfare) của xã hội. trong khi dòng chảy của mỗi con sông đều liên quan trực tiếp tới mạch nước ngầm trong lòng đất.v.v.. mà nguồn gây ô nhiễm lại chủ yếu từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người, thông qua các chu trình carbon và nitơ và phốtpho (carbon, nitrogen, phophorus cycle) gây nên sự suy thoái nguồn nước nghiêm trọng. Đối với vùng ven sông, thượng-hạ lưu sông thường là những nơi khá thuận lợi cho sự phát triển đô thị và những thành phố lớn- trù phú với công nghiệp tập trung qui mô lớn và các công trình công cộng- xã hội (utilities) phản ánh qua từng thời kỳ lịch sử.

Nguyên nhân khiến cho các lưu vực sông trở nên rất quan trọng bởi đó chính là sự giao thoa giữa đất, nước, không khí với thiên nhiên. Nơi mà con người tìm kiếm cơ hội sinh tồn và các hoạt động nhằm khôi phục nội lực bản thân như nghỉ ngơi, thể thao…với sự tăng trưởng kinh tế phần nào làm thay đổi các mối quan hệ xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống (qol), song nền văn minh đô thị công nghiệp đã thất bại khi phải đối mặt với những tham vọng lạm dụng hai bên bờ sông và đã tự huỷ hoại môi trường sinh thái, cảnh quan…xảy ra trong thời kỳ hậu công nghiệp.

Sự huỷ hoại đó diễn ra hai bên sông qua vùng đô thị không chỉ là một vấn đề giản đơn như bề nổi vẫn thấy mà phức tạp vô cùng. Tuy nhận thức về môi trường của con người ngày nay dần cải thiện, song nhu tiêu dùng nước ngày càng gia tăng gây lãng phí, làm kiệt quệ nguồn nước và các nguồn khác. Do đó, các dòng sông hiện đang phải chịu những tác động rất lớn do các thành phần đô thị đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái sông. để đánh giá được điều này thì lợi ích kinh tế -xã hội đã và đang chứng minh khả năng sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên là hợp lý hay bất hợp lý qua thời gian.

Nếu như con người có trách nhiệm trong quản lý đô thị thì cái “được”-“mất” về môi trường sinh thái và xã hội sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng để tìm ra những giải pháp tối ưu sao cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần phải: (1) giảm việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên; (2) ngăn chặn suy thoái môi trường: đất, nước, không khí và cảnh quan…; (3) tái sử dụng nước và những nguồn có thể; (4) tập trung hoá đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng với nhu cầu con người trong môi trường thiên nhiên. Để có thể thực hiện thành công tôn chỉ này, các bên liên quan (stakeholders)-cộng đồng sẽ phải đưa ra những công cụ quản lý hiệu quả như: thể chế (qui định, tổ chức và quy trình quản lý), quy hoạch đô thị và kỹ thuật tương thích..v.v.

Những phương pháp quy hoạch, hệ thống thể chế mới – hiệu quả trở thành những yếu tố quan trọng và bắt buộc đối với sự tồn tại vĩnh cửu của những dòng sông trong quá trình phát triển bền vững. ở mức độ khu vực, những qui định về sức khoẻ cộng đồng, sử dụng đất đai, cân bằng sinh thái, bảo tồn những vùng đất trù phú, tạo không gian thoáng và chương trình phát triển đô thị cần phải liên hệ chặt trẽ nhằm bảo vệ hệ thống cảnh quan thiên nhiên bên sông. đồng thời, cung cấp những lưu vực tốt nhất tạo quĩ đất xây dựng thích hợp đối với toàn bộ quá trình phát triển.

Cảnh quan sông là một vốn quí mà tạo hoá để lại gắn liền với những dấu ấn văn hoá, lịch sử tồn tại cho đến ngày nay. đối với vùng nông thôn, mặt nước và thảm thực vật đã tạo nên quần thể sinh thái-cảnh quan trên lưu vực sông xen lẫn những hoạt động thuần nông của người dân chân chất. Đối với vùng thành thị sự đánh dấu của con người đã tạo nên những hành lang ở từng thời điểm xây dựng, song mặt trái lại là những mâu thuẫn tồn tại với các mối quan hệ phức tạp-logíc của thiên nhiên. Khu vực thành phố thường có cấu trúc cảnh quan rất nổi trội và mang đậm tính chất, bản sắc cũng như đường nét riêng biệt của khu vực. Như ở paris, những toà nhà cổ kính soi mình xuống dòng sông đã tạo nên hành lang cảnh quan tuyệt vời, mà qua đó thành phố càng được tôn vinh hơn bởi dòng chảy êm đềm. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp người ta đã làm cho dòng sông trở nên phức tạp, lộn xộn và đánh mất những gì vốn có của con sông do thiên nhiên sắp đặt.

Sự hình thành những vùng đô thị trong hành lang sông là rất đa dạng với thành phần: khung cảnh thành phố, khối tích nhà, công trình công cộng và cảnh quan thiên nhiên- hoang dã…cũng cần phải được phát huy một cách thiết thực. Do đó, mô hình thành phố bên sông với những ưu-nhược điểm kết hợp kinh nghiệm các nước trên thế giới sẽ cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể và đa dạng sau đây:

Sông Thames, London- Anh.

London được mệnh danh là một thành phố “xanh”, người dân thành phố rất tự hào về hệ thống công viên, quảng trường và lớp thảm thực vật quanh thành phố. sự đa dạng về loại hình kiến trúc, nghệ thuật tạo hình- điêu khắc.v.v. và mạng lưới giao thông phát triển đô thị theo hướng phi tập trung bên sông. Tuy nhiên, London cũng là một thành phố công nghiệp lớn trong nhiều năm cùng với nhiều vấn đề phức tạp và gây ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống (QOL) nói riêng và cuộc sống đô thị nói chung.

Trải qua những năm khủng hoảng của thành phố, thì ngày nay sông Thames là một phần mang lại nhiều ý nghĩa và hy vọng cho người dân đô thị. Hiện sông Thames là một trong bốn con sông hoàng gia dưới sự bảo vệ của các triều đại nữ hoàng, và là một con sông mạng đậm chất nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử. sự hiện diện và duyên dáng của hệ mái vòm thánh đường Christopher Wrens, nhà thờ St. Paul là một mốc hiệu nghệ thuật hoà quện với kiến trúc cổ điển của toà nhà quốc hội, cầu Tower (xây dựng thế kỷ 19), và tháp London (thế kỷ 17) mang lại những sắc thái nghệ thuật kiến trúc dặc trưng bên sông. london cổ kính bởi các công trình dân dụng, tôn giáo, chính trị… cùng những cấu trúc hiện đại tạo nên bộ mặt đô thị khang trang. Tuy nhiên, để phát triển thành phố vào thế kỷ 18 một số toà nhà bị dỡ bỏ nhằm mở rộng hệ thống giao thông và lúc đó nhiều tiên đoán cho rằng cây cầu Tower cũng sẽ bị dỡ bỏ trong thế kỷ 19 song điều này đã không thành hiện thực và ngày nay giá trị của công trình này là vô giá.

Sông Thames- Đầu TK20

Sông Potomac- Washington, D.C.

Sông Potomac qua Washington, D.C là một ví dụ điển hình đã đem lại những bài học giá trị lớn cho các quy hoạch gia Mỹ kể từ khi thành phố Columbia được ví như thủ phủ của nước Mỹ năm 1791, một số quy hoạch vùng và đô thị đặc biệt đã được nghiên cứu và ít nhiều liên quan tương hỗ với Washington và phần dòng chảy qua thành phố này.

Sự phát triển thành phố bên sông được trải qua một số giai đoạn (1) quy hoạch thành phố Columbia năm 1791 của l’enfant; (2) Mcmillan năm 1902; (3)quy hoạch hệ thống công viên- sinh thái quốc gia năm 1929; (4) qui hoạch chính sách tới năm 2000 và (5) quy hoạch lưu vực sông Potomac.

Đáng chú ý phải kể đến quy hoạch lưu vực sông Potomac được thực hiện giữa những năm 1966 và 1968. Nghiên cứu tập trung vào việc bảo vệ nguồn nước, bảo tồn các dải ven sông, đồng thời tạo nên những cảnh quan đẹp bên sông quốc gia. Bên cạnh đó, công viên quốc gia cũng trở thành một trong những hành lang bên sông được bảo vệ thông qua thể chế của nhà nước. Vai trò của dòng sông là giải quyết hàng loạt vấn đề quanh vùng và washington: cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường- nước thải, kiểm soát lũ lụt và điều hoà dòng chảy, chống sói sụt-lở đất, quá trình bồi đắp và đóng góp những giá trị sinh thái rất có giá trị.

Hệ dòng chảy Potomac qua các lưu vực & sự phát triển bên sông

Việc kiểm soát sử dụng, phát triển bên sông thực hiện do chính quyền liên bang và các nhà chức trách khu vực theo đề xuất của Potomac river compact với 6 thành viên từ các bang Virginia, Maryland, West viginia, Pennylvania, một từ Columbia và chính phủ liên bang.

Năm 1963 tập đoàn kỹ thuật quân sự Mỹ đề xuất xây dựng khoảng 60 hồ chứa lớn (reservoirs) tại các lưu vực của sông nhằm điều hoà dòng chảy cũng như bảo vệ cảnh quan bên sông. Phần lớn những hồ chứa được bố trí ở các nhánh sông, kết hợp hài hoà và tạo nên những cảnh quan hiếm có của Shenandoah. Những hồ chứa lớn nhất được đặt phía cuối sông Potomac, nơi đây đã tạo nên một thuỷ điện lớn great falls của đất nước và của khu vực.

Những năm sau, một nhóm quy hoạch thuộc viện nghiên cứu kiến trúc mỹ được thành lập nhằm giải quyết thêm vấn đề của Potomac và được gọi là lực lượng thực hiện quy hoạch Potomac(Potomac planning task force). Kế hoạch đề ra những mục tiêu phải đảm bảo sự chỉnh trang thích hợp cảnh quan và khai thác nguồn lợi sinh học tại các lưu vực và nhóm này đã đưa ra những quan niệm mới cho Potomac như sau:

con sông: bao gồm mặt nước, hệ thống kênh của potomac và các nhánh sông gắn liền và phát triển dòng chảy.

bờ sông: là những vùng hành lang bên sông

môi trường sông: là những vùng nằm trong phạm vi bán kính 10km.

Quan niệm tiếp theo cũng rất quan trọng bởi nó sẽ thiết lập phía truớc sông Potomac ranh giới về kiến trúc-cảnh quan và sinh thái. Quy hoạch gia Mcharg- trưởng khoa kiến trúc cảnh quan thuộc đại học Pennsylvania, đã ủng hộ tích cực qui hoạch có liên quan tới môi trường sinh thái bởi ý nghĩa của việc sử dụng đất sao cho phù hợp với cơ sở hạ tầng kỹ thuật- xã hội đặc trưng của vùng và khu vực.

Và kết quả dự kiến của bản qui hoạch sẽ tạo nên một tổng thể hài hoà với thành phố theo trật tự, nguyên tắc và nhấn mạnh yếu tố bảo vệ môi trường cho đô thị và thiên nhiên. Nếu những thử thách đối với sông potomac vượt qua thì nơi đây sẽ cho chúng ta thấy hệ không gian cảnh quan bên sông tuyệt vời như bản qui hoạch đã định cho thành phố một cách đồng bộ.

Sông Limmat and Sihl- Zurich

Zurich là một thành phố của Thuỵ sỹ, trải dài từ phía bắc biển Zurich, kéo dài khoảng trên 60km uốn lượn từ tây sang tây bắc theo triền dốc của Schwyz alps. Zurich giống như Lyons và Pittsburrgh là nơi tập trung của hai con sông. Limmat và Sihl không lớn như những sông Rhone, Saone hay Monongahela, Allegheny, song có thể nhận ra những nét riêng từ dòng chảy, địa hình và số lượng cầu vượt qua sông cũng như những cảm nhận đặc biệt bởi một phần nổi lên của hòn đảo như con thuyền bồng bềnh trên mặt nước.

Sông Limmat là con sông lớn trong hai dòng sông đổ ra biển Zurich và đóng vai trò chiến lược trong quá trình phát triển thành phố. Người Thụy sỹ đã định cư trên dải sông này từ khá sớm tại những nơi giao nhau của các con sông, các tuyến đường qua Limmat tới thung lũng và hợp nhất với dòng Rhine. Vì vậy, Limmat trở thành xương sống chính của thành phố ngày nay.

Dòng sông Sihl cách biển Zurich khoảng 50km, bám dọc và song song với phía tây Zurich cho đến khi nhập vào dòng sông Limmat. Các dải đất được phủ xanh với các loại cây bụi đa dạng phát triển tới phía đông. Trung tâm thành phố hiện ghi lại nhiều dấu ấn gắn liền với limmat. Do đó, sự phát triển hướng tây Zurich không thu hút đựoc nhiều sự chú ý, có lẽ điều này giải thích tại sao sihl nằm trong vùng ảnh hưởng và mục tiêu phát triển của các nhà đô thị. Đơn giản, nó là một trong vùng có cảnh quan thiên nhiên đã được quản lý- bảo tồn cho quá trình phát triển đô thị từ khá lâu.

Dự án đường cao tốc trên cao dọc sông Sihl

Quá trình đô thị hoá diễn ra đòi hỏi các nhà qui hoạch cần phải thiết lập các dự án phát triển, trong đó dự án Sihl được quan tâm đặc biệt. Dự án đường cao tốc này đã được cơ quan liên bang thẩm định và là một phần trong chiến lược phát triển mạng đường giao thông quốc gia. trong những năm 1950, chương trình đường cao tốc đã được khởi công hai bên bờ sông Limmat và Sihl qua khu vực trung tâm zurich. Do một vài lý do, dự án này chỉ được thực hiện đối với tuyến qua Sihl bởi tuyến đường cao tốc qua Limmat sẽ phá vỡ cấu trúc bên sông, chia thành phố thành hai phần tách biệt và hạn chế phát triển đô thị.

Tuy nhiên vấn đề cao tốc Sihl đã không còn quá nghiêm trọng bởi những nghiên cứu xoay “đường cao tốc” của các nước thế giới công nghiệp vẫn liên tục diễn ra cho đến nay. Tuy nhiên, một điểm lưu ý là quá trình đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với quy hoạch đường cao tốc Zurich- Sihl đã được thực hiện cụ thể, chính xác đã giúp cho các nhà quản lý đô thị hiệu quả trong xây dựng tuyến đường. Toàn bộ tài liệu eia và các thông số kỹ thuật liên quan tới môi trường đều được công bố rộng rãi bởi tính tích cực của nó đối với công tác xây dựng. Cuối cùng, Zurich đã có thể tìm được một giải pháp hữu hiệu để giữ lại hình ảnh nguyên vẹn trải dài 5km theo sông, thúc đẩy – phát triển đầy đủ mọi chức năng dọc bên sông và cung cấp tuyến đường cao tốc liên khu vực mà không phá vỡ cảnh quan sông nói chung.

Sông Hồng- Hà nội

Hà nội đã có gần 1000 năm hình thành và phát triển với nhiều dấu ấn tuyệt vời. Qua thời gian, cho đến nay rất nhiều dự án nghiên cứu về thủ đô Hà nội do nhiều cơ quan tổ, chức thực hiện. Một trong số đó là đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thủ đô hà nội do viện qui hoạch Đô thị- Nông thôn và viện qui hoạch Hà nội thực hiện đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt theo QĐ số 108/1998/qđ-ttg ngày 20/6/1998 với :

quy mô dân số toàn khu vực đô thị Hà nội phát triển khoảng 4,5-5,0 triệu người (năm 2020) trong đó trung tâm thành phố Hà nội 2,5 triệu.

nhu cầu đất xây dựng tới năm 2020 là 25.000ha,

Hà nội là đô thị cải tạo và mở rộng với cấu trúc các khu vực đặc trưng chủ yếu:

khu hạn chế phát triển

khu ngoài hạn chế phát triển và phát triển mở rộng (hữu ngạn sông Hồng)

khu vực phát triển hà nội mới (bắc sông Hồng)

Do đó, vai trò sông Hồng trở nên đặc biệt quan trọng với khoảng gần 40km dài chảy qua hà nội và 3 cây cầu vượt qua sông Hồng (khu vực Hà nội) là cầu Thăng long, Chương dương và Long biên . Ngoài ra, một vài chương trình chính được định hướng và phát triển hai bên sông như:

chương trình đầu tư, bảo vệ môi trường gồm: nghiên cứu, lập qui hoạch môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị và ven sông hồng, cổ loa, hồ tây… (1)

dự án xây dựng nhà máy xử lý nước mặt sông hồng với công suát 130.000m3 đến 500.000 m3/ ngày (2)

và hàng loạt các dự án qui hoạch các quận- huyện- xã, cải tạo đê kè hai bên sông hồng thuộc địa bàn hà nội (qhct huyện từ liêm, thanh trì..v.v..).

Sông Hồng trong qui hoạch tổng thể Hà nội

(?) Câu hỏi được đặt ra: thực tế sông Hồng hiện nay ra sao? liệu dòng sông có trở thành xương sống chính của thủ đô Hà nội trong tương lai? giống như các con sông trên thế giới ?.

Nếu quan sát dòng chảy sông Hồng từ phía nước bạn TQ, qua tỉnh Lào cai-là vùng đầu tiên phía việt nam, cho thấy dòng chảy chính là sự kết hợp của nhánh Nậm thi và Sông hồng. Dòng chảy khá xiết, nhiều vùng soáy lớn nhỏ trên bề mặt dòng chảy, độ đục lớn- tạo nên bên lở_bên bồi rõ rệt. Đặc biệt, vấn đề môi trường sông cần phải đựoc đặt ra một cách nghiêm túc bởi có rất nhiều phế thải (gỗ vụn, giấy loại, chai, lọ…) đã được dòng chảy từ phía bạn đưa sang nước ta. Và sông Hồng tiếp tục chảy qua Yên bái, Phú thọ, Vĩnh phúc, Hà nội, đến Hưng yên, Thái bình, Nam định rồi đổ ra Biển đông.

Hiện nay, sông Hồng trở thành tuyến đường thuỷ chủ yếu phục vụ cho việc chuyên chở hàng hoá vật liệu xây dựng, than, xi măng… từ tỉnh ngoài về với 90% lượng hàng. Chỉ có 10% hàng của Hà nội được xuất đi tỉnh khác và nhiều nhất cũng chỉ là đồ gốm sứ, có đến 80% phương tiện của tư nhân, còn lại là của doanh nghiệp nhà nước.

Ngoài ra, vấn đề bức xúc nữa phải kể đến nạn khai thác cát có và không phép ở khắp nơi trên sông Hồng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đô thị. Theo qui định của chỉ thị 03/1999/ct-ttg thì giấy phép hoạt động khai thác cát (17 giấy phép) hết hiệu lực sẽ buộc phải dừng hoạt động. Song điều này không ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị và làm phát sinh thêm các hình thức khai thác cát hút trên sông bằng các tàu, thuyền cỡ nhỏ và trung bình của tư nhân.

Rồi hậu quả chỉ ra là dòng chảy sông Hồng ngày càng biến đổi ngày càng lớn, và có xu hướng tạo các mạch nước ngầm ăn sâu hơn vào lòng đất. Trong những năm 1999, 2000 hàng loạt các vụ sụt lở đã diễn ra trên toàn tuyến sông Hồng và nghiêm trọng nhất là vụ sụt lở tiểu khu Nghĩa dũng (cũ)- thuộc bộ kiến trúc (cũ), chỉ sau một đêm hàng chục ngôi nhà bị lật nhào- mất tăm. Dãy nhà ven sông gần như bị “xoá sổ”. Đây là một hiểm hoạ tiềm ẩn nếu như dòng chảy sông Hồng bị đổi dòng và rồi những lạch ngầm sẽ tiếp tục xoáy vào khu dân cư ven sông, vào thân đê và những trụ cầu…

Quả thật, vấn đề sông Hồng còn phải bàn nhiều và cần có sự tham gia của các ban, ngành, cơ quan chuyên môn, các chuyên gia và cả những cộng đồng dân cư dọc hai bên bờ sông hồng. Song, một điều chắc chắn rằng sông Hồng được khai thác hiệu quả, phù hợp sẽ trở thành khu vực sinh thái- cảnh quan lớn cho Hà nội và cả vùng. đồng thời là ví dụ điển hình cho các con sông khác của nước ta.

Lời kết

Qua một vài ví dụ trong nuớc và trên thế giới cho thấy đô thị hiện đại đã coi những dòng sông là những thung lũng mở cuối cùng của các thành phố phát triển, và là nguồn tài nguyên thiên nhiên cuối cùng để con người có thể tiếp cận và tận hưởng những giá trị vô giá của nó đem lại. Đó là hệ thống cảnh quan-môi trường sinh thái và đòi hỏi mức độ quan tâm đặc biệt trong công cuộc bảo tồn và phát huy tài nguyên thiên nhiên còn lại. Hơn nữa, bất kỳ tác động nào ảnh hưởng đến dòng sông, hai bên sông sẽ cần phải đáp ứng được những hy vọng, mong muốn của xã hội- cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng môi trường đô thị , cũng như phát triển đô thị bền vững trong tương lai.

Tham khảo:

+ Roy mann., “rivers in the city”; david& charles newton abbot- great britain, 1973.

+ Bộ xây dựng., “quy hoạch xây dựng các đô thị”; nxb-xây dựng, 1999.

+ Trọng nghĩa., “sông hồng”; antđ 757, 2002.

+ Tường lâm., “dùng nước mặt sông hồng cấp nước sinh hoạt?”, antđ 797, 2002

+ Eldon, bradley., “environmental science”, wcb, u.s, 1995.

July 12, 2008 Posted by akinmh | journal paper | , , | No Comments Yet