Greenery Planning For Public Utilities in Urban Areas Design standards
Biên soạn Tiêu chuẩn Xây dựng Thiết kế Quy hoạch Cây xanh Đô thị
(Mã số TC 27-01, hoàn thành năm 2005)
I. Giới thiệu chung và sự cần thiết của đề tài
Nước ta kéo dài từ Mục nam Quan tới mũi Cà Mau với địa hình phong phỳ và đa dạng như vùng đồng bằng, vùng biển, vùng núi và trung du. Với các loại địa hình như vậy dưới quá trình đô thị hóa thì các đô thị của chúng ta phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất lượng trong thời kỳ đổi mới này. Số lượng các đô thị phát triển khoảng 600 đô thị, trong đó có 4 thành phố lớn trực thuộc Trung ương, 73 thành phố-thị xã trực thuộc Tỉnh và hơn 500 thị trấn. Qua đó cho thấy hầu hết các đô thị đó và đang phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao-du lịch nhằm làm hạt nhân, động lực thúc đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH.
Đô thị phát triển mạnh càng đòi hỏi sự ổn định, phát triển bền vững trên cơ sở tổ chức hợp lý cơ cấu, chức năng đặc biệt là hệ môi trường sinh thái với thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Mục tiêu chiến lược mà Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phát triển đô thị đó là xác định từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đụ thị với cơ sở kinh tế- xã hội, kỹ thuật hiện đại, môi trường trong sạch và giữ gìn- phát huy bản sắc dân tộc. Môi trường sinh thái là yếu tố rất quan trọng đối với đời sống nói chung và đô thị núi riêng bởi nó giúp cho con người có môi trường sống và làm việc- lao động sáng tạo, nghỉ ngơi và giải trí tốt nhất. Môi trường sinh thái bao gồm nhiều yếu tố như: đất, nước, không khí, ánh sáng, cây xanh, mặt nước và nhiều yếu tố khác. Trong đó, tỷ lệ diện tích cây xanh đô thị đóng vai trò then chốt trong mỗi đô thị nhằm đảm bảo môi trường, chất lượng cuộc sống cho đô thị và cần phải có một tỷ lệ thích hợp, tương xứng với các loại đất chức năng khác trong đô thị. Vì vậy, tiêu chuẩn cây xanh trong thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
II. Giới hạn của đề tài
Căn cứ nhiệm vụ đuợc giao theo HĐ số 54/HĐKT của Bộ Xây dựng về việc thực hiện đề tài khoa học cụng nghệ ngày 20/4/2001 đó xác định tên đề tài và giới hạn cụ thể như sau:
a. Đề tài: Biên soạn TCXD: Thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị mã số TC27-01
b. Giới hạn: (1) Nghiên cứu; (2) Biên soạn dự thảo TCXD, thiết kế qui hoạch cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị.
Do vậy, đây là cơ sở quan trọng để đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào tiêu chuẩn cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị nước ta. Tiêu chuẩn này sẽ được áp dụng vào thiết kế qui hoạch đô thị và lập các đồ án QHXD đô thị trên toàn quốc.
III. Mục tiêu của đề tài
a. Đánh giá hiện trạng tỷ lệ cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị nước ta.
b. Đánh giá chức năng, vai trò cây xanh trong phát triển đô thị trong nước và nước ngoài.
c. Đề xuất chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng hợp lý để áp dụng trong thiết kế quy hoạch cây xanh cho các đô thị.
IV. Phạm vi nghiên cứu
Cây xanh đô thị theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam Tập 1 (1997)- (Điều 5.11: Cây xanh đô thị, tr.71) gồm ba nhóm chính:
a. Cây xanh sử dụng cụng cộng (công viên, vườn hoa, vườn dạo…)
b. Cây xanh sử dụng hạn chế (trong các khu chức năng đô thị như khu công nghiệp, kho tàng, trường học…)
c. Cây xanh chuyên môn (cách ly, phòng hộ, nghiên cứu thực vật học…)
Downloadable forms (in Vietnamese):
Decision- 01/2006/QĐ-BXD
Cover
The standard and other details
A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam
A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam
Ngo Minh Hung, Wong Yunn Chii, Heng Chye Kiang
(Accepted in: Velocity 2007 International Conference, Munich)
Abstract
Hanoi Ancient Quarter, established from Lý Thái Tổ King period (year 1010 A.D), is the core of present Hanoi city as a political, economic centre of Vietnam. From the beginning, a simply mixed urban fabric, namely “Kẻ Chợ”, were gradually appeared by traditional tube-houses built and professional merchant streets named specifically in accordance with rudimentary transport. After ten centuries, this urban context is undamaged, typically square “3-7 meters width” road-network, extreme narrow alley and the house corridor (0.5-1 meter), which are literally fit for an ancient town featuring bicycle, cyclo (xích-lô) and pedestrian street. Unknown travel patterns seen as present are mixing traffic flow causing congestion, conflict and pollution for the Ancient Quarter’s value and, especially poorer community’s living condition. Lacking space to motorized vehicle raises difficulties for Hanoi authority and local dwellers because of various encroachments in bounded areas.
To deal with the research method is conducted to fall in two-folds: (1) re-assess original elements (bicycle, pedestrian and unique trading culture) constituting local uniqueness and; (2) make use of flexible locations for traffic and rudimentary transport. Therefore, the major planning strategy enhancing cultural knowledge as well as upgrading infrastructural quality and facilities is proposed accordingly in order to properly overcome meeting phenomena in order to improve quality of life in the Ancient Quarter – the one of National heritage sites.
Renovation and Promotion of the Value of the ancient “Intersection” land within the City
Tôn Tạo và Phát Huy giá trị vùng đất “Giao thoa” cổ trong thành phố (Kỳ.1)
(Tạp chí Xây dựng, số 12/2002; ISSN 0866-8762, trang 12-15)
“… Sự xuống cấp hay sự biến đổi của một tài sản thuộc di sản văn hóa hay tự nhiên, là một sự làm nghèo nàn di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới …” (UNESCO, 1972)
Đã từ lâu con người nhận thấy rằng sự tồn tại của di sản là những minh chứng quan trọng lịch sử- văn hóa- tôn giáo qua quá trình tiến hóa của mỗi dân tộc ở từng giai đoạn lịch sử. Đất nước ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Khi đất nước giải phóng, non sông thu về một mối, thì những quần thể di tích, di sản đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, điển hình là miền Bắc có khu phố cổ Hà Nội, Cổ Loa, các làng nghề truyền thống; miền Trung có kinh thành Huế, lăng tẩm triều Nguyễn, Hội An, thánh địa Mỹ Sơn… Chúng ta đã cùng bạn bè quốc tế khám phá ra những dấu ấn của ông cha mà không ít trong số đó có giá trị tầm cỡ khu vực và thế giới. Ngày nay, ở những nước đang phát triển như chúng ta, quá trình đô thị hóa đang nảy sinh những “áp lực” mang tính tiêu cực, ảnh hưởng đến các di sản, di tích hay không gian có giá trị một cách nghiêm trọng. Hậu quả là di tích bị đe dọa và xâm hại, đặc biệt là với những giá trị to lớn như trong lòng thành phố Huế.
- Đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh trong lòng thành phố
Gia Hội- Chợ Dinh chính là một vùng như vậy, ẩn mình trong quần thể di tích cố đô Huế- nơi đã từng tập trung, hội tụ những tinh hoa- tài năng của đất nước qua hàng thế kỷ và sáng tạo nên nhiều công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu và đặc trưng qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước. Với những đặc điểm là kinh đô cuối cùng của triều đại quân chủ Việt Nam thì Huế nói chung và Gia Hội- Chợ Dinh nói riêng, còn lưu giữ khá nhiều công trình, di tích mang giá trị nghệ thuật lớn trong và ngoài kinh thành. Lịch sử đã khẳng định sự hình thành và phát triển khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh ngay từ nửa đầu thế kỷ 19. Khi phố cổ Bao Vinh- thương cảng Thanh Hà (giai đoạn cuối TK 16 tới đầu TK 17) dần lụi tàn, và bên kia Đông Ba là sự phát triển của kinh Thành Huế (vàođầuTK 18), thìđô thị cổ này dần lan lên phía Gia Hội (cuối TK 18) và tồn tại đến ngày nay. Cho nên, Gia Hội- Chợ Dinh không những còn phảng phất nhiều hình ảnh thời kỳ ấy giữa Bao Vinh và Kinh Thành Huế mà con lưu giữ hàng trăm di tích của người Hoa, của các ông Hoàng- bà Chúa (có tên trong sử sách), người Nhật, Ấn Độ và các nhân vật lịch sử nổi tiếng một thời.
Đặc biệt, cái tên Gia Hội do chính vua Minh Mạng đặt vào năm 1837. Thời kỳ này Gia Hội nằm trên hòn đảo được bao bọc chung quanh bởi dòng sông Hương thơ mộng và sông Đông Ba nổi tiếng. Đường Chi Lăng ngày nay mà dân thường gọi là đường Gia Hội, vốn xưa có tên là phố Chợ Dinh hay Dinh Thị Phố. Giờ đây, Gia Hội- Chợ Dinh kéo dài từ cầu Gia Hội đến cầu Đông Ba trải dài trên địa phận hành chính 3 phường: Phú Cát, Phú Hiệp và Phú Hậu của thành phố Huế với diện tích khoảng 70ha.
Do vậy, mà Gia Hội- Chợ Dinh đã trở thành vùng đất “giao thoa” lịch sử và việc bảo tồn đô thị cổ này sẽ góp phần làmđậm nét những dấuấn lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thuận Hóa- Phú Xuân- Huế, đồng thời khai thác hiệu quả những giá trị “vật thể- phi vật thể” theo phương pháp khoa học, làm động lực phát triển kinh tế- xã hội và công nghiệp du lịch trong giai đoạn mới của đất nước.

Chiêu Ứng Từ- Đường Chi Lăng
(Còn nữa)
- Kỳ 2. Định hướng bảo tồn khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh
- Kỳ 3. Bảo tồn những giá trị “vật thể- phi vật thể”
- Kỳ 4. Thiết kế phát triển cho Gia Hội- Chợ Dinh trong môi trường đô thị hóa (1-Hạt nhân bảo tồn; 2- Cụm bảo tồn lồng ghép phát triển; 3- Mảng bảo tồn phát triển bền vững)
Affordances of Heritage Environment: A Conservation Approach to Hanoi Ancient Quarter in Vietnam
Tuesday, 24 April 2007
3:00 – 4:00 pm
Centre for Advanced Studies in Architecture
Department of Architecture
National University of Singapore
Abstract
Heritage conservation plays an important role above all others in rapidly developing cities, towns and quarters to connect the past with the present as well as protect our roots, historically, culturally, architecturally, socially and so forth. Value of conservation of built environments has been acknowledged and illustrated through numerous instances mostly in developed countries (United Kingdom, Canada, Japan and Singapore…) beneath public and private interest and support. Seemingly, this process, at developing countries, is not easy-going with restoring and rehabilitating historic and ancient quarters to which governments pay attention but lacking necessary capabilities for, whilst other resources, critically, are available inside local communities themselves for improving living conditions by demolishing old constructions (Malacca and Hanoi…) to build up new modern ones relatively.
In recent years, community involvement to preserve and develop Hanoi Ancient Quarter is still a controversial issue beyond seriously worrying conditions of the built environment, urban elements and remaining heritages. The visible reasons, which could be explainable, are the Quarter’s attractiveness involving people in economic, trading activities more than protecting, retaining its cultural and historic heritage values as their behaviors, actions toward perceived spaces and functional properties of the built environment through reciprocal relationships between heritage environment and users.
The aim of this paper, using J. Gibson’s “affordance” term, is to examine significant characteristics of the 36 Old Streets Quarter which support users’ actions, behaviors for urban and architectural preservation works, in other words, conservational potential affordances (CPAs) covering various sub-affordance levels (perceiving, utilizing, sharing (Kytta, 2002: 109) and so forth), as my argument, through social activities that have never been done before. To response to these within outdoor and partly indoor (the sharing spaces) context, semi-structured and key informant (informal) interviews, participant- observation and behavior mapping methods are used to collect qualitative data to explore different affordances of residential blocks- basic heritage units of the Ancient Quarter. The main factual problems, regrettably, are misperceiving and misuse of affordances of the heritage environments, causing consequences as captured today.
After data analysis, a CPAs profile will be constructive to suggest potentiality and availability of affordances of the residential block and its distribution as well. Then, behavior schemata will also figure out social activities regarding use of urban layouts and objects, which constituted the past and present functional properties of 36 Old Streets Quarter. Finally, a heritage conservation program, supposedly, will be implemented to guide people to perceive and use the affordances to gradually adjust presently perceived environments so as to lead to appropriate rehabilitative actions to foster identity and vibrancy of this cultural heritage at level- community initiative.
A Schema for the Conservation of Tube-Houses (Hanoi, Vietnam)
Ngo Minh Hung and Wong Yunn Chii
(Full paper- Presented in: CONSERVATION IN CHANGING SOCIETIES: Heritage development- International Conference 2006, Lueven, Belgium)
![]()
Abstract
The city of Hanoi is celebrating its 1000th anniversary in 2010. It is an ancient city with a structure based on both original Vietnamese and French colonial architecture. The tube-house, an ubiquitous typology in its urban context, is a vital built heritage that has been impacted by urbanization, socio-economic changes, and high population density. These changes affected both its architecture and housing function. There are no successful conservation projects of the tube houses and their precincts. This paper proposes schema, as a set of conservation strategies, for this traditional house typology based on its architectural features, urban and social function and land use. It argues that for a sustainable urban development that would retain the character of the city, a staged approach based on community participation and the clarification of the “Inside-to-Outside” intervention is required.
Management Model for Raising Environment Quality in Ancient Streets of Hanoi
Mô Hình Quản Lý nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môi trường Phố Cổ Hà Nội (Kỳ 1.)
(Tạp Chí Xây Dựng- số 6/2002, ISSN 0866-8762, trang 42-45)
Hà Nội là thành phố có nhiều di sản văn hóa phản ánh nghìn năm lịch sử. Khu phố cổ- cái nôi của Hà Nội ngày nay – nơi gìn giữ kiến trúc truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc… đã và đang thực hiện vai trò quan trong với các hoạt động kinh tế, thương mại đồng thời còn là trung tâm du lịch.
Từ khi có chính sáchđổi mới, quá trìnhđô thị hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân chính cho sự biến đổi môi trường. Mặt khác, hệ thống thể chế chưa bắt kịp tiến trình đô thị hóa nên phần nào ảnh hưởngđến kiến trúc cảnh quan chung của phố cổ và ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng cuộc sốngđô thị. Cùng với cả nước, Hà Nôi đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH, kinh tế- xã hội phát triển, cuộc sống dần được cải thiện, công tác quản lý càng phải được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng môi trương phố cổ.
Không gian kiến trúc cảnh quan và vấn đề tồn tại
Khu phố cổ nằm trong ranh giới hành chính của quận Hoàn Kiếm, diện tích khoảng 100ha thuộc 10 phường với tồng số dân lên tới 171.000 người (1998) và mật độ trên 32.000 người/km2, trong đó có nơi tập trung trên 1200 người/ha với diện tích 3m2/người. Hoạtđộng buôn bán, kinh doanh và nhu cầu cuộc sống đã lấn át phần lớn các không gian xanh còn lại của phố cổ bởi nó gây cản trở ít nhiều việc buôn bán và kiến trúc dần biến dạng. Trong khi đó, đất ở đây ngày càng có giá trị, thậm chí gần đây còn cao hơn một số thành phố lớn ở Châu Âu.
Quanh phố cổ hiện còn tồn tại một số không gian xanh giữa quần thể kiến trúc pha tạp lộn xộn với diện tích- mật độ rất thấp. Ở đây chỉ còn một lượng nhỏ cây xanh được trồng bên hè phố chật hẹp … như phường Hàng Bông chí có 142 cây to/ 7000 người. Phần lớn sân vườn trong ngôi nhà ống truyền thống đều bị xâm chiếm, sinh hoạt cộng đồng, lối sống văn hóa cungc như hệ thống cơ sở hạ tầng (cấp- thoát nước, VSMT, thu gom rác thải…) bị phá vỡ.
Ý nghĩa của không gian kiến trúc cảnh quan vô cung quan trọng, bởi giá trị của nó với cuộc sống: làm sạch không khí,điều hòa vi khí hậu, giảm tiếng ồn, tạo cảnh quan và là dấu ấn phản ánh rõ nét quá trình phát triển trải qua từng thời kỳ củađô thị.
Thực tế cho thấy, không gian kiến trúc cảnh quan khu vực phố cổ đang dần biến mất dưới hình thức này hay hình thức khác. Vì vậy, những không gian này cần phải được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị, nhằm cải thiện môi trường phố cổ, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội cung như thu hút khách du lịch trong giai đoạn phát triển sắp tới.
- Không gian kiến trúc cảnh quan trong ngôi nhà ống
Trong lịch sử phát triển, thì mỗi ngôi nhà ống gồm từ 2 đến 3 sân trong hay con gọi “tiểu môi trường cảnh quan” với mục đích phục vụ nghỉ ngơi- trồng cây cảnh, bài trí nghệ thuật theo phong cách riêng của chủ nhà. Nơi này thường được kết hợp với các phòng chức năng và khu phụ (bếp, nhà kho và khu vệ sinh), nó đảm bảo điều kiện sống tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm- nhiệt đới. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết những chức năng này đã bị chuyển đổi, gây ra những vấn đề phức tạp. Việc khôi phục các không gian này thực sự cần thiết bởi nó sẽ đảm bảo: (1) thông thoáng và lấyánh sáng tự nhiên; (2) cho hoạtđộng nghỉ ngơi, thư giãn; (3) cho sự phát triển và cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó,đây sẽ là thành phần chính cho hệ thống môi trường kiến trúc cảnh quan hoàn chỉnh của phố cổ trong tương lai.
- Không gian kiến trúc cảnh quan phố cổ
Dựa trên số liệu thống kê chưa đầy đủ và sự phân tích giữa bản đồ ghi chép năm 1873 với thời gian gần đây, thì môi trường cảnh quan phố cổ giảm đi nhiều. Trong tình hình hiện nay, phố cổ chỉ còn lưu giữ được một phần rất nhỏ thảm thực vật xanh như: vườn hoa Vạn Xuân (Hàng đậu), Phùng Hưng, Cửa Nam, Nam cầu Long Biên và đặc biệt là không gian kiến trúc cảnh quan hồ Hoàn Kiếm. Điều này cho thấy, đây là những không gian không thể thiếu trong cấu trúcđô thị của Hà Nội nói chung và của phố cổ nói riêng, bởi qua đó thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động sống hàng ngày với nhu cầu nghỉ ngơi và vui chơi của cộng đồng. Song vấn đề hiện nay là khu vực xanh này quá nghèo nàn chưa đủ hấp dẫn người sử dụng, nên chưa phát huy tối đa khả năng đối với lối sống đô thị hiện đại.
Vậy, liệu có thể phát huy không gian kiến trúc cảnh quan trong phố cổ hay không?
Qua khảo sát, một phần diện tích trong lõi các ô phố hiện chưa được sử dụng đúng mục đích hoặc bỏ hoang. Đã có nhiều dự án đề xuất cải tạo diện tích này thành nơi phục vụ cho sinh hoạt cộngđồng. Song hầu hết đến nay vẫn chưa trở thành hiện thực?. Do vậy, để phát huy tối đa hiệu quả không gian kiến trúc cảnh quan, nên chăng cần phải có cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích mọi nguồn lực của cộng đồng vào công tác bảo tồn trong thời gian tới.
- Cơ chế chính sách trong quản lý môi trường kiến trúc cảnh quan
Do tính chất đặc biệt của phố cổ trong tiến trình phát triển đô thị, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy về quản lý bảo tồn như: QĐ 70 BXD/KT-QH (1995); QĐ số 45/ QĐ-UB (1999); QĐ 1127- BXD/QLN (1994); QĐ 91/CP (1994) và QĐ 48/CP (1997)… bên cạnh những mặt tích cực của luật pháp là những hạn chế có tác động tiêu cực đến cấu trúc phố cổ và vai trò không gian kiến trúc cảnh quan chưa được chi tiết hóa. Sự thay đổi môi trường pháp quy cũng gây ra không ít khó khăn trong thực hiện quản lý.
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức để thực hiện cho công tác này còn nhiều vấn đề phải bàn. Bản thân người dân khó có thể phân biệt được cấp nào có thẩm quyền quản lý, trong khi rất nhiều cơ quan cùng tham gia giải quyết vấn đề cộng đồng. Thực tế chỉ ra rằng, những không gian cảnh quan vẫn tiếp tục bị lấn chiếm và sử dụng sai mục đích. Vậy thì nguyên nhân chính ở đâu? để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phân tích SWOT sẽ là một công cụ hiệu quả có thể xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa trong công tác quản lý kiến trúc cảnh quan phố cổ hiện nay.
Đối mặt với các vấn đề đô thị hóa thì sự cần thiết bảo tồn phố cổ lại càng cấp bách. PGS. TS Willi Zimmermann (AIT, 2001) thốt lên rằng: “Nếu không có biện pháp cấp bách, thì Hà Nội sẽ mất đi cội rễ của chính mình theo thời gian, mà qua đó thế giới biết đến các bạn”. Điều này nói lên không gian truyền thống nói chung, di sản văn hóa- lịch sử- tôn giáo đã và đang bị ảnh hưởng xấu bởi hoạt động kinh tế, phát triển công nghiệp du lịch và dịch vụ. Sự suy thoái môi trưởng bởi: tiếng ồn, ô nhiễm không khí- nước- chất thải rắn gây mất vệ sinh chung là mối đe dọa lớn đối với sức khoe cộng đồng, đặc biệt những cư dân thu nhập thấp trong lõi phố cổ. Nguyên nhân chung do: mật độ dân cư tập trung lớn, chiều cao trung bình thấp, mật độ xây dựng dày đặc dẫnđến phần lớn đất đai trong khu vực trở thành diện tích sinh sống và buôn bán, công trình kiến trúc xuống cấp trầm trọng đi đôi với cơ sở hạ tầng thấp kém và không gian kiến trúc cảnh quan bị hủy hoại… Thậm chí trong rất nhiềuô phố không còn tồn tại lõi xanh nữa.
Upgrading environment quality in craft villages
Nâng Cao Chất Lượng Môi Trường các Làng Nghề
(Tạp chí Xây dựng- số 11/2001, ISSN 0866-8762, trang 29-30)
Quá trình đô thị hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước phát triển trong đó có Việt Nam. Điều này cũng tác động không nhỏ đến quá trình thay đổi của xã hội và môi trường đô thị, nông thôn, đặc biệt là đối với môi trường các làng nghề, một thành phần không thể tách rời quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nông thôn, đồng thời góp phần làm đa dạng và phong phú truyền thống văn hóa của đất nước.
Dưới những tác động tích cực, các làng nghề như gốm Bát Tràng (Gia Lâm- Hà Nội), sắt Đa Hội, giấy dó Phong Kê (Bắc Ninh), mộc Vân Hà (Đông Anh- Hà Nội)… đang vận động để giữ gìn và phát triển những tinh hoa văn hóa được chuyển tải qua các sản phẩm truyền thống. Tuy nhiên, nhiều phương thức sản xuất hiện nay đang gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng khong nhỏ tới các khu vực lân cận, thể hiện:
- Ô nhiễm môi trường không khí gây ra các loại bệnh: hô hấp, viêm xoang, bướu cổ, bụi phổi silic và 90% số lao động thưỡng xuyên trong các làng nghề sản xuất các loại sản phẩm công nghiệp mắc bệnh.
- Nước thải không được xử lý chứa các loại hóa chất độc hại (ví dụ như chất thải bắt nguồn từ sơn PU, PE của Đài Loan); từ các cơ sở sản xuất (Bát Tràng có hơn 700 cơ sở) đổ trực tiếp vào hệ thống cống đã xuống cấp để chảy ra sông chính, gây các bệnh về tiêu hóa và làm mất cân bằng sinh thái cho khu vực dân cư hai bờ sông. Môi trườngđấtởđây bịô nhiễm nghiêm trọng.
- Mức độ khí thải đều ở mức báo động, do việc sử dụng chất đốt thường xuyên cao sẽ là nguy cơ gây ra hiện tượng bất ổn về thời tiết và vi khí hậu, bởi sự nóng lên của khu vực (Heat island). Nhiệt độ trung bình ở đây thường cao hơn xung quanh từ 1 đến 3 độ, dẫn đến mất cân bằng sinh thái khu vực.
- Nền kinh tế mở cửa đã làm cho các cơ sở sản xuất cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và mẫu mã, đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này tạo nên mặt bằng giá cả ngày càng hợp lý cho người tiêu dùng, đem lại những hiệu quả kinh tế và lợi ích xã hội vô cùng to lớn. Mặt khác, môi trường kinh doanh- sản xuất buộc các chủ sản xuất đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, mà không hề quan tâm đến môi trường xung quanh- nơi sẽ đảm bảo một cuộc sống và không gian sản xuất lâu dài.
Trong khi người dân khu vực nói chung, chủ cơ sở sản xuất và lực lượng lao động nói riêng còn thiếu thông tin thực tế về tình trạng môi trường, cũng như nhận thức về vấn đề này còn hạn chế và chưa đầy đủ thì sự phối hợp từ nhiều phía của các cấp chính quyền địa phương là rất cần thiết, như: khuyến khích cải tiến công nghệ sản xuất; trồng cây xanh và khơi thông mương cống…
Tuy nhiên, do hệ thống tổ chức phức tạp, phương pháp quản lý môi trường thiếu tínhđồng bộ và khoa học, nên chính quyền địa phương rất khó chủ động giải quyết các vấn đề cấp bách về môi trường khí, nước và đất v.v… chủ yếu trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước và cơ quan chuyên ngành, dẫnđến môi trường các làng nghề ngày càng trở nên suy thoái nghiêm trọng. Đối với các khu vực này cần có hệ thống quy chế riêng, tổ chức chuyên ngành dựa trên phương pháp quản lý khoa học, logic và hiệu quả mới có thể giúp cho địa phương và cơ sở duy trì và phát triển các loại hình văn hóa đặc thù này tốt lên được.
Vì vậy, để nâng cao chất lượng môi trường làng nghề và bảo đảm sự cân bằng sinh thái, cần có những định hướng chiến lược và những giải pháp cụ thể lâu dài, như:
- Thành lập một Ủy ban chuyên trách về môi trường các làng nghề với sự tham gia của các cơ quan liên quan tới vấn đề môi trường, đứng đầu là Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ KH & CN và Bộ TN & MT), chính quyền địa phương và đại diện các thành phần xã hội, người dân làng nghề và khu vực lân cận. Ủy ban nay có nhiệm vụ:
+ Thực hiện khảo sát hiện trạng và đánh giá những tác động do ô nhiễm gây ra đối với sức khỏ của cộng đồng và sự mất cân bằng sinh thái trong từng làng nghề nói riêng và cả vùng nói chung. Công việc này cần được duy trì thường xuyên và do cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với địa phương cùng thực hiện.
+ Xác định mục tiêu cụ thể cho các làng nghề thông qua việc thực hiện và áp dụng các mô hình quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch chi tiết, phân loại các hình thức sản xuất để bố trí hợp lý, quản lý một cách chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm, phối hợp và xử lý các chất thải đểđạt yêu cầu cho một môi trường sạch. Quy hoạch không gian, mặt nước, khoảng không gian cách ly và các công trình dân dụng cần thiết theo nhu cầu thực tế, dựa trên quy chuẩn, quy phạm, cũng như xác định quy mô phù hợp với từng loại ngành nghề và quỹ đất hiện có của địa phương.
+ Nghiên cứu, tính toán và đưa ra các biện pháp kinh tế môi trường (measures of environmental economic) để làm nền tảng cho hoạch định chính sách môi trường cho từng loại mô hình sản xuất, điều này sẽ giúp các chủ sản xuất đầu tư một cách hiệu quả cho quy trình sản xuất, cải tạo môi trường và giảm giá thành sản phẩm, đảm bảo chất lượng khu vực và quốc tế.
+ Đề xuất những quy chế và chính sách lên các cấp có thẩm quyền nhằm khuyến khích các cơ sở sản xuất cóý thức bảo vệ môi trường, như giảm thuế đối với các sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường, xử phạt hoặc đóng cửa các nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng… nhằm ngăn chặn triệt để các nguồn có thể gây ô nhiễm trước mắt và trong tương lai.
+ Tuyên truyền và phổ biến rộng rãi tới từng người dân qua phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục địa phương và các tổ chức đoàn thể về tình trạng suy thoai môi trường và hậu quả do nó gây ra. Nâng cao hiểu biết và nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề phức tạp, nghiêm trọng này, để Ủy ban các làng nghề xây dựng những kế hoạch hành động cải tạo môi trường cấp bách cũng như lâu dài.
+ Hoạt động như những nhà tư vấn về chuyên môn và áp dụng công nghệ xử lý bụi, tiếng ồn, chất thải … cho các cơ sở sản xuất và đưa ra các biện pháp an toàn cho lực lượng lao động, để đảm bảo sức khỏe cho việc tái sản xuất. Đồng thời trực tiếp trợ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược địa phương và trung ương những kế hoạch phù hợp với tình hình phát triển chung để đảm bảo sự phát triển bền vững (sustainable development).
+ Giúp địa phương tiếp tục duy trì chương trình phủ xanh quanh các cơ sở sản xuất, hai bên đường, tiến hành cải tạo hệ thống cấp thoát nước, đường giao thông và hạn chế tối đa ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người nói riêng và đả bảo cân băng sinh thái nói chung. Đặc biệt, áp dụng các phương pháp sinh học, nhằm cải tạo lại lô đất bị nhiễm độc như sử dụng các loại vi sinh (composting), vi sinh vật để làm cho đất trở nên màu mỡ, tơi xốp và làm tăng giá trị vốn có của đất đai.
Giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường cần tiến hành đồng thời nhiều biện pháp, xác định việc gì cần làm trướcđể có thểđưa ra những hướng giải quyết bám sát thực tế. Coi sự phát triển bền vững của các làng nghề như một cấu trúc, làm cơ sở để xác định chính sách phát triển kinh tế phù hợp với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Và chính sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, của cộng đồng các làng nghề sẽ tạo nên sự phát triển bền vững.
Chập chững Đông – 2001
Necessary elements in current archirects’ training curricula
Những Yếu Tố Cần Thiết Trong Đào Tạo Kiến Trúc Sư Hiện Nay.
(Tạp Chí Xây Dựng số 5/2001- ISSN 0866-8762, trang 59-60)
Hàng năm, số kiến trúc sư (KTS) ra trường ngày càng nhiều từ các trường công lập như đại học Kiến trúc, đại học Xây dựng Hà Nội, đại học Kiến trúc TP Hồ Chí Minh và một số trường đại học dân lập khác. Tuy nhiên, một số lượng không nhỏ các KTS mới ra trường chưa thể đáp ứng các đòi hỏi và nhu cầu phát triển của nền kinh tế hiện nay. Nhiều người trong số họ đã phải bỏ nghề, hoặc chuyển sang hoạt động trong một số lĩnh vực hoàn toàn khác đối với kiến trúc.
Quá trình đô thị hóa ngày càng tăng nhanh tại phần lớn các nước đang phát triển như Thái Lan, Băng La Đét… trong đó có chúng ta. Thu nhập, cũng như điều kiện sống của người dân trong nước ngày càng được cải thiện do được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Song điều này cũng góp phần làm cho bộ mặt kiến trúc càng trở nên phong phú và đa dạng đến mức “không thể nhận ra” yếu tố bản sắc dân tộc mà chúng ta vẫn thường nhắc tới.
Một câu hỏi được đặt ra: Truyền thống có phải do kiến trúc sư tạo ra hay không? Điều này không hoàn toàn chỉ dựa trên khả năng của người làm kiến trúc, mà nó phụ thuộc rất lớn vào quá trình cũng như mô hìnhđào tạo hiện nay của các trường, và một phần dựa trên lĩnh vực quản lý đô thị. Chúng ta biết rằng, theo quy luật của hệ thống quản lý chất lượng (Quality Management System) thì muốn có đầu ra (Output) tốt về chất lượng, cần phải có đầu vào đủ tiêu chuân (Input). Mặt khác quá trìnhđào tạo cũng rất quan trọng cho mỗi KTS hành nghề. Trong lĩnh vực quản lý sản xuất và chất lượng, thế giớiđều sử dụng tiêu chuẩn ISO 9001, 9002; trong quản lý môi trường là ISO 14001, điều này chứng tỏ rằng hệ thống quản lý nghiêm ngặt và logic của ISO rất thành công và mang lại hiệu quả lớn cho bản thân các nhà sản xuất; quản lý và sự phát triển của đất nước.
Quay lại với mô hình quản lý và đào tạo ở nước ta, phải chăng chưa thực sự hiệu quả? Tất nhiênđiều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như trìnhđộ giáo viên, khả năng truyền đạt, giáo trình dạy học, những quy định của Bộ Giáo dục và của trường, hệ thống thư viện và số giờ cần thiết cho đào tạo KTS trong thời gian dài (5 năm) v.v..
Trên thế giới, trong nhiều lĩnh vực, người taáp dụng các biện pháp khác nhau khi thành lập một hệ thống, mô hình như: Simulation Method hay Life Cycle Assessment để kiểm soát và đánh giá những yếu tố và vấn đề trong toàn bộ quá trình thực hiện. Liệu rằng điều này có thể xảy ra trong lĩn vực đào tạo KTS ?. Có thể lắm chứ, song nó đòi hỏi nhiều yếu tố liên quan đến quản lý mà các nước đang phát triển gặp phải như: Trách nhiệm (Accountability), Tính công khai (Transparency) và Quy định (Institutions).
Ở đây xin nêu ra một mô hình đào tạo hiệu quả tại Học viện Công nghệ Châu Á- Thái Lan (Asian Institute of Technology- AIT- Thailand) đó là mô hình tổ chức phân tán (decentralization) với số lượng giáo viên chính thức (permenence faculty) trong mỗi khoa không nhiều (từ 3 đến 4 giáo viên), cùng số lượng giáo viên được mời dạy (visiting faculty) tùy theo từng môn học trong mỗi kỳ (term). Các giáo viên giỏi có trách nhiệm đảm bảo nội dung và số giờ dạy một cách nghiêm túc. Ngoài số môn bắt buộc, sinh viên cònđược học các môn yêu thích của từng giáo viên trong bất kỳ khoa nào trong trường và sinh viên sẽ phải hoàn thành tất cả các bài tập và đọc tài liệu do giáo viên yêu cầu. Trong thi cử, AIT áp dụng hai kiểu thi: Học thuộc lòng (Closed book) và hiểu biết (Openned book). Mỗi kiểu thi có mức độ khác nhau, song một điều tối kỵ đó là việc quay cóp trong khi thi. Đặc biệt, hệ thống điểm áp dụng rất nghiêm khắc (A: 4,0; B+: 3,5; B: 3,0; C+: 2,5; C: 2,0 và D: 1,5) và số điểm tuyệt đối (A) trong lớp là rất ít. Sau 3 học kỳ nếu điểm dạt 2,75 trở lên mới được làm luận văn tốt nghiệp (thesis). Còn dưới điểm chuẩn thì buộc phải làm nghiên cứu (Research), điều này không áp dụng đối với trường Quản lý- SOM thuộc AIT. Một điều cho tháy rằng, nếu có hệ thống nghiêm ngặt trong quản lý đào tạo tại mỗi trường đại học cho cả giáo viên và sinh viên, thì hiệu quả đào tạo KTS là khả quan. Khi tốt nghiệp, hõ sẽ thích nghi với những môi trường làm việc khác nhau, cho dù khó khăn đến nhường nào đi chăng nữa.
Thời gian học tại trường đại học hầu hết các KTS không được trang bị đầy đủ kiến thức, không chỉ về chuyên môn mà còn về kiến thức xã hội. Màđiều này trong tương lai sẽ giúp họ một khả năng biết kết hợp các yếu tố thực tiễn lại với nhau, tạo nên những tác phẩm có ích và khả thi trongđời sống. Rất nhiều nhà nghiên cứu, tổ chứcđã phải lên tiếng rằng: KTS hiện nay không biết sáng tác ! Họ chỉ biết tập trung vẽ làm sao chođẹp, hoặc cho xong những công trình trên máy tính (Autocad, 3D studio…) mà không biết rằng, máy tính chỉ là một công cụ thể hiện giúp con người sáng tácở vài khâu rất nhỏ trong toàn bộ quá trình sáng tạo và thiết kế- xây dựng mà thôi. Khác với loại hình đào tạo của các nước có nền kiến trúc lớn trên thế giới nh: Pháp, Italia, Mỹ… các KTS của ta rất khó có thể bảo vệ được chính “Con đẻ của mình” bằng kiến thức đơn giản với những câu hỏi bắt đầu bằng: Cái gì? (What); Tại sao? (Why); Thế nào? (How); Khi nào? (When).
Kinh nghiệm cho thấy, khi tham gia các giải thưởng quốc tế, rất ít người trong số họ có thể hòa nhập được với bạn bè bởi sự nhìn nhận các vấn đề mang tính tổng quát và hệ thống rất kém (hoặc không có), mà chỉ tập trung vào yếu tố kỹ thuật đơn thuần (chưa kể đến khả năng ngoại ngữ). Phải chăng doảnh hưởng của quá trìnhđào tạo?. Khía cạnh này chúng ta cần bàn thêm.
Trong những năm sắp tới lực lượng KTS trẻ vô cùng cần thiết và quan trọng. Vì họ là lớp người kiến thiết, duy trì và phát triển nền kiến trúc dân tộc trong tương lai, là người thực hiện những mong muốn xây dựng đất nước dưới sự dẫn dắt củaĐảng và Nhà nước. Thiết nghĩ, sự nghiệp đào tạo KTS có lẽ cần bắt đầu ngay từ trong các trường đại học, vì đó là môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển về mọi mặt (thể- chất) của mỗi sinh viên khi bước chân vào nghề. Do đó, xin được đề xuất cụ thể một số điểm sau đây:
1. Các trường đào tạo KTS cần có các giải pháp tích cực, khuyến khích các giảng viên yêu nghề hơn nữa, đồng thwofi nâng cao kỹ năng sư phạm cho mỗi chuyên ngành cụ thể.
2. Áp dụng hệ thống đánh giá chất lượng giảng dạy trong thời gian cụ thể, đối với tất cả các giảng viên trong trường, để đảm bảo thời gian lên lớp cũng như nội dung cần truyền đạt tới sinh viên.
3. Yêu cầu các giảng viên tăng cường kiểm tra các bài tập chuyên môn, nâng cao kiến thức tổng hợp cho sinh viên, bằng việc cung cấp các tài liệu tham khảo cần đọc trong thư viện trường, hoặc của bản thân và bắt buộc họ phải hoàn thành.
4. Áp dụng hình thức trình bày- báo cáo (presentation) và bảo vệ các đồ án môn học (mini projects) và bài tập nhóm (group assignements) trước hội đồng, do giảng viên thành lập, để nâng cao khả năng lỹ luận, phê bình cũng như kiến thức tổng quát.
5. Cần xử lý nghiêm khắc những vi phạm của sinh viên theo qui định của Bộ Giáo dục & Đào tạo và nhà trường đề ra.
Giáo sư Henry Sanoff (AIA- 2000) giảng viên trường Kiến trúc North Carolina State University- Canada kết luận: Sự tham gia của các KTS trong hoạtđộng của cộng đồng, tạo nên một khả năng cần thiết của chính cộng đồng và cơ hội để trở thành sản phẩm của xã hội. Điều này chứng tỏ KTS trẻ là đội ngũ cần phải được quan tâm đúng mức hơn nữa từ Đảng, Nhà nước và các ban, ngành liên quan đến “sự nghiệp trồng người”, và “sự duy trì, phát triển” bản sắc kiến trúc của dân tộc.
Chớm hè AIT-Thailand, 2001

