Tun Tan Cheng Lock Centre for Architectural and Urban Heritage
DEPARTMENT OF ARCHITECTURE – 50th ANNIVERSARY CELEBRATIONS
Soft Launch of Tun Tan Cheng Lock Centre for Architectural and Urban Heritage (TTCL-Center)
Date: 21 November 2008
Venue: 54 and 56 Jalan Tun Tan Cheng Lock, Malacca
In the line towards progress, the Department of Architecture has not jettison the awareness of the roots and culture of place. A generous donation from Ms Agnes Tan, the daughter of Tun Tan Cheng Lock, enabled the purchase of two houses along Jalan Tun Tan Cheng Lock in Malacca. They are now being restored and adaptively re-used for the careful study of conservation, analysis of construction techniques and a close study of architectural culture and heritage. After months of works, the Department of Architecture is organizing a soft launch on 21 November 2008 at 54 and 56 Jalan Tun Tan Cheng Lock, Malacca.
The Centre is envisioned to be a resource center and a field school with facilities for academic exchanges among scholars and students coming from all parts of the world. It is located strategically in the recently declared World Heritage City, Malacca where various civilizations met, blended, and manifested into the cosmopolitan characters of its architecture and urban culture along its history.
(Quoted from Note of the HOD-Architecture)
Urban Planning and Urban Land for Specific Regions in Vietnam
(Sustainable National Land Policy of Asian Countries responding to Long term Impacts, Tokyo-Japan, 2004)
Improving The Living Conditions of A Low- Income Community: Focus on Sanitary Management in Hoan Kiem District- Hanoi, Vietnam
By Dao Thu Ha
(Published in Asian Institute of Technology- Thailand, 2004)
Abstract
Hanoi is the second largest city in Vietnam with a rich cultural heritage reflecting nearly 1000 years of history. With a large population, the living condition in central Hanoi particularly is seriously deteriorating. Sanitation management is one of the key issues for improving the living condition of Hanoi’s center, the ‘36 Old Street Quarter’, location in HoanKiem district, which is one of the most populated districts of the city. Rapid urbanization process through the increase of commercial and tourism industries have made sanitation environment as big problem in this central part of the city. The purpose of this study has been to contribute to improve the living condition for enhancing quality of life of the study area. With this in view, the primary data was collected through questionnaire survey of sampled residents, field observation and interview with the officials of local government. The necessary secondary data were also collected. SPSS software was used as the main tool for analyzing the data. To achieve the research objectives, the field work was conducted in 10 phuongs of HoanKiem district with a total questionnaire survey of 70 households.
Main findings of the research reveal two aspects of sanitary condition. Firstly, on the indoor hygiene side, it is found that households are currently using double-latrine and pit latrine, both of which are inappropriate for this high population density of Ancient Quarter. Leaked water is increasing sanitary woes in their houses, especially, in surrounding areas seriously the water taps and low-land areas attract mosquitoes and other dangerous insects that affects human health of the community. On the outdoor hygiene side, it is found that the existing drainage system is not separated from the sewage line causing of mud and sludge. The findings on policy show that investment capability of local household for improvement the sanitation is there but the State, HPC and HoanKiem district authorities have no policy to make investment for improving sanitation quality.
Policy recommendations made to improve the conditions focus on the following aspects. First, for improving indoor sanitation, DTPWs and HASM should support the local people in planning and constructing a proper water supply system. About latrine use, double latrine should be replaced by septic tank toilet. Household should be encouraged to move in this direction. Secondly, for improving outdoor sanitation, public toilet facility should be provided in each of the phuongs in the Ancient Quarter. These facilities should be integrated into the built form, accessible at street level and open from at least 6.am to 11.pm seven days a week or if possible 24 hours a day with proper supervision and regular cleaning each day and night. However, road drainage should be upgraded as part of improvements to physical infrastructure of the Ancient Quarter. Other recommendations drawn from the research include involving environmental NGOs, academic groups and government officials to raise the awareness of the city residents for giving care and attention to improve the environmental condition in the city in general and in respective neighborhood in particular.
An Institutional Reform- Based Approach to Managing Open-Space in Expanded Hanoi City

The map of “e-Hanoi” is prepared by VIAP (2008) and Research Questions:
1. What should e-Hanoi do to increase greenery areas next periods?
2. How does e-Hanoi manage and protect current open-spaces through the City’s institution system?
I have used terms- e-Hanoi, OPM, O-P, regulatory simplification & adjustment, decision-making restructure & management process to describe several ideals about reform-processes to deal with these issues.
A Miniature Singapore- Live show!
A Singapore has been zoomed out through URA’s models. The city edges were captured by several visits with Great PA and the friends last two years. This imageability could help you, VNmese town planners and architects form a good perceived environment for your own projects in the future
Enjoy the show!
(by Nikon D200 & Coolpix 5700)
A study on Urban & Architectural Conservation in Penang, Malaysia
(ar5756. completed in 2006)
Abstract
Georgetown of Penang, founded in 1786 by Captain Francis Light is famous with cultural diversity, old colonial buildings and traditional roofscapes mixed with new high-rise. The Town has been experienced ups and downs of political, socio-economic change last few centuries. Up to now, conservation of urban fabric and cultural heritage is the burning question of the day after UNESCO returned “the Historic centres of Malacca and Penang dossiers” in 2005. The aim of the research, thus, was to understand current conservation of Penang’s built heritage as well as to assess dossier of Penang historic center. Practically, analytical process, which relied on UNESCO criteria, implied many actual causes influenced the submitted application’s content. Therefore, to deal with these problems, appropriate measures are proposed to definitely tackle these problems in the revising dossier of Penang for the second submission.
Keywords: Penang’s built heritage, dossier of Penang historic centre, conservation

The Chân Mây’s Design Concept

(The National Project, completed in 2004)
An industry planning model (small,medium-scale) towards sustainable development
Mô hình qui hoạch công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp hướng tới Phát triển bền vững
(Tạp chí QH, năm 2002)
Những năm qua phát triển ngành công nghiệp là một trong những Ngành được Đảng, Nhà nước và các Ban Ngành giành sự quan tâm đặc biệt với hàng loạt chính sách ưu đãi, khuyến khích và thu hút đầu tư cho lĩnh vực chiếm ưu thế thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Chiến lược này được khẳng định trong qui hoạch tổng thể phát triển công nghiệp và kết cấu hạ tầng tới năm 2010 như sau: “Mục tiêu lâu dài thực hiện CNH, HĐH từ nay cho đến năm 2010 là biến đổi nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Hình thành nền kinh tế phát triển năng động, tự chủ, đủ sức cạnh tranh, hội nhập với các nước trong khu vực Đông Nam á và thế giới”. Trong đó, quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp và xây dựng kết cấu hạ tầng lấy CNH-HĐH phải theo hướng xã hội chủ nghĩa, là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế; đồng thời lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố căn bản cho “phát triển nhanh và bền vững”.
Nhìn chung, phát triển ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) được qui định dựa trên cơ sở phân cấp quản lý (decentralisation) theo NĐ số 36/CP (24/4/1997); TT số 04 BXD/KTQH (30/7/1997) và số 08/TT-KHĐT (29/7/1997)..v.v. nhằm phát huy tối đa các nguồn lực từng vùng. Do đó, nhiều Tỉnh- Thành phố đã và đang tiến hành xây dựng qui hoạch phát triển CN-TTCN trước mắt cũng như lâu dài cho mình làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng “nội lực” bản thân hoà cùng xu thế phát triển chung của đất nước.

Yếu tố “Nội- Ngoại” lực của cụm CN-TTCN TP. Thái Nguyên
Thực tế cho thấy chủ trương này có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan từ các qui hoạch Ngành, qui hoạch tổng thế kinh tế- xã hội đến lập qui hoạch-dự án các khu- cụm CN-TTCN.v.v. gây nên. Hàng loạt các cụm CN-TTCN ra đời với hình thức “trăm hoa đua nở” cả về qui mô lẫn hình thức, trong đó không ít dự án mới chỉ tính toán đến hiệu quả kinh tế trước mắt mà quên đi và sao nhãng đến lĩnh vực môi trường sinh thái- cảnh quan thiên nhiên. Hậu quả là các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng ồn và chất thải công nghiệp, đặc biệt là phải kể đến hiện tượng “nóng cục bộ” (heat island) trong các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng gây mất cân bằng sinh thái, huỷ hoại môi trường ngày càng nghiêm trọng và điều chắc chắn là rất khó có thể khôi phục lại những gì đã mất. Câu hỏi đặt ra (?) : Liệu cái “được” từ cụm CN-TTCN so với cái “mất” của môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên thì cái nào lớn hơn?. Nên chăng, chúng ta cần phải xem xét vấn đề này khi còn trong giai đoạn nghiên cứu lập dự án qui hoạch? hơn hết vẫn là: “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Khai thác cụm CN-TTCN hiệu quả và bảo vệ môi trường chính là những thành phần chính yếu trong mô hình qui hoạch cụm CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững, đồng thời là giải pháp toàn diện cho môi trường xã hội “xanh, sạch, đẹp” và nâng cao chất lượng cuộc sống đô thị-nông thôn, phát triển dài lâu. Do vậy, một minh hoạ cụ thể cho xu hướng này bước đầu được nghiên cứu thông qua dự án qui hoạch cụm CN-TTCN tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và đã được phê duyệt theo QĐ số 2850/QĐ-UB của UBND Tỉnh Thái Nguyên ngày 23/9/2002.
Như chúng ta đã biết, quy hoạch chung xây dựng thành phố Thái nguyên được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 802/TTg ngày 30 tháng 10 năm 1996 đã xác định: “…là Tỉnh lỵ của tỉnh Thái Nguyên, là thành phố công nghiệp, là trung tâm của vùng Việt Bắc, đầu mối giao thông của các tỉnh miền núi phía Bắc và có vị trí chiến lược về an ninh và quốc phòng…”. Kể từ đó đến nay, thành phố Thái Nguyên đã phát huy nội lực, tập trung thúc đẩy phát triển mọi nguồn lực và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Năm 2001, tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 10,8%, GDP chiếm 71,4%, công nghiệp và XDCB chiếm 46%, dịch vụ 45,2%, nông-lâm nghiệp chiếm 8,8%. Vừa qua, những nỗ lực ấy lại được khẳng định khi thành phố Thái Nguyên chính thức đuợc công nhận là đô thị loại II đúng dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Thành phố (19/10/1962- 19/10/2002).
Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên
Cụm CN-TTCN thực hiện trước những đòi hỏi và thách thức của quá trình đô thị hoá diễn ra khá nhanh ở khu vực thành thị, ngoài những mặt tích cực thì mặt trái là những vấn đề tiêu cực về ô nhiễm môi trường, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, an ninh- xã hội phức tạp bởi sự phát triển tự phát, phân tán của các ngành-nghề và dân cư…Hơn nữa hoạt động CN-TTCN của thành phố Thái Nguyên có qui mô sản xuất nhỏ, thiết bị công nghệ “già cỗi” và hiệu quả chưa cao. Để thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội nghị lần thứ XIV của Đảng bộ Tỉnh Thái Nguyên đã xác định trong 5 năm 2001-2005 là: “Phát huy mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng Thành phố giàu về kinh tế…” nên nhu cầu thiết yếu của thành phố về hình thành xây dựng các cụm CN-TTCN trên địa bàn được đặt ra nhằm thu hút đầu tư mạnh vào các ngành công nghiệp được khuyến khích làm chuyển biến tích cực nền kinh tế đồng thời làm phong phú thêm các loại hình công nghiệp, kiến trúc và đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
Cụm CN-TTCN này có qui mô vừa, bao gồm các ngành nghề phụ trợ cho CN luyện kim và cơ khí, chế tạo động cơ, SX hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm sản và hơn nữa“sản phẩm sản xuất ra sẽ thay thế hàng nhập khẩu, phần lớn sẽ phục vụ cho sự phát triển của khu vực và xuất khẩu hàng công nghiệp có ưu thế cạnh tranh”. Bên cạnh đó, việc xác định các loại hình CN trong cụm CN-TTCN luôn tuân thủ và bám sát thông tư số 08/TT-KHĐT (29/7/1997) của Bộ Công nghiệp và quyết định số 5207/2001/QĐ-UB (31/12/2001) của UBND Tỉnh Thái Nguyên về chương trình phát triển CN-TTCN tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2001-2005.
(*) Quan điểm chung cho cụm CN-TTCN này là lấy (i) hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ. Đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có. (ii) Tạo việc làm nhiều hơn, số lao động tăng thêm hàng năm, giảm đáng kể thất nghiệp; (iii) Cải thiện chất lượng cuộc sống, môi trường đô thị; (iv) Đổi mới căn bản tổ chức, quản lý và nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đổi mới và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế hợp tác từ thấp đến cao. Phát triển các hình thức liên doanh liên kết trực tiếp giữa các doanh nghiệp nhà nước với nhau, giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác, kinh tế tư nhân, cá thể và các công ty nước ngoài.
(*) Mục đích chính: (v) cụm CN-TTCN hỗ trợ phát triển ngành Công nghiệp có vai trò là động lực và nòng cốt quá trình HĐH-CNH khu vực; (vi) Khai thác triệt để các nguồn nội lực và thu hút sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực (input), tiếp nhận vốn và chuyển giao công nghệ tiến tiến, hiện đại và hội nhập với thị trường khu vực và thế giới (hình vẽ 1).
(*) Trên cơ sở nhu cầu phát triển, quan điểm, mục đích mà việc lựa chọn những ngành công nghiệp theo nhóm công nghiệp chủ đạo, ưu tiên như: 1) công nghiệp VLXD; 2) cơ khí phục vụ nông lâm; 3) Sản xuất và gia công thép nguội; 4) chế biến nông- lâm sản thực phẩm và; 5) sản xuất hàng tiêu dùng. Quan trọng hơn hết là phải đảm bảo mọi chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do Nhà nước qui định đối với các KCN nói chung và cụm CN-TTCN nói riêng.

Mô hình CN-TTCN hướng tới phát triển bền vững
Đối với xu hướng phát triển bền vững thì sự quan tâm đến mọi lĩnh vực, đa ngành là rất cần thiết bởi mô hình “simulation” hình thành sẽ đánh giá toàn bộ ảnh hưởng diễn ra trong mọi quá trình vận hành của cụm CN-TTCN nói chung và từng nhà máy, XNCN nói riêng. Ngoài những yêu cầu đối với qui hoạch cụm CN-TTCN theo quyết định số 322-BXD/ĐT của Bộ xây dựng về việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng thì dự án còn quan tâm thêm những lĩnh vực như:
+ Chuẩn bị công tác qui hoạch
+ Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động qui hoạch (Output)
+ Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
a. Chuẩn bị công tác qui hoạch
Công tác chuẩn bị qui hoạch đòi hỏi dựa trên những phản ảnh thực tế để rồi lồng ghép một cách hiệu quả, tương thích với những khía cạnh kinh tế- xã hội, xây dựng, quản lý đô thị và môi trường. Tuy nhiên, có lẽ hầu hết các cụm CN-TTCN (tính đến tháng 8/2002 cả nước có tổng số 124 cụm CN-TTCN qui mô vừa và nhỏ trên 19 Tỉnh, Thành phố) chưa quan tâm đầy đủ đến sự cân bằng giữa “cung- cầu” do sự chênh lệch hiện nay giữa hai thái cực này càng trở thành chủ đề chính và cần có sự tham gia của nhiều Ngành bởi bất kỳ sự biến động giữa “cung-cầu” đều ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển bền vững nói chung. Theo số liệu bước đầu về nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Thái Nguyên cho thấy đây chính là tiềm năng tiềm ẩn lớn trong khu vực bởi cụm CN-TTCN đã thu hút sự quan tâm sâu sát của họ ngay từ giai đoạn lập qui hoạch, đó cũng là một yếu tố tích cực của xu hướng này. Vì vậy, việc sắp xếp, bố trí các XNCN và các chức năng khác cần phải tuân theo những nguyên tắc, tổ hợp về qui hoạch công nghiệp (theo kiểu hợp khối liên tục, đơn nguyên, chu vi…hình vẽ 2). Tuy nhiên, tổ chức qui hoạch này chưa thực sự đi vào cuộc sống khi chưa tính toán và xem xét cẩn trọng đến hiện tượng “nóng cục bộ” trong lõi cụm CN và đô thị.

(*) Hiện tượng “nóng cục bộ” (heat-island)
Hiện tượng này là một trong những nguyên nhân tác động làm biến đổi khí hậu, gia tăng hiệu ứng nhà kính, hấp phụ hâm “nóng” lõi các đô thị hiện đại và cụm CN vào ban ngày và tán “lạnh” đột ngột vào ban đêm, hậu quả là tạo ra những cơn lốc xoáy trong khu vực nội thị, trong KCN rồi bốc lên cao biến toàn khu vực như một chảo nóng-lạnh khổng lồ mà con người sẽ phải gánh chịu cùng với những hiểm họa khôn lường.
Phương án qui hoạch cụm CN-TTCN ở thành phố Thái Nguyên bước đầu được thiết kế trên quan điểm tôn trọng địa hình thiên nhiên, đây chính là ưu điểm mà cảnh quan thiên nhiên vùng Việt Bắc ban tặng. Song song là tỷ lệ “xanh” hoá tăng và phân bố linh hoạt- hài hoà với tổng thể cụm CN-TTCN có tác dụng làm giảm, thậm chí có thể hoá giải được hiện tượng nóng lên cục bộ và làm cho môi trường ngày càng trở nên lý tưởng. Và phương án có hướng lồng ghép các chức năng với các đồi cây xanh sinh thái trở thành quần thể kiến trúc cảnh quan sinh động trong hệ sinh thái toàn vùng. Tuy nhiên, giải quyết đồng bộ vấn đề này phụ thuộc trực tiếp giữa các mối liên hệ về cơ cấu phân khu chức năng cụm CN-TTCN với cộng đồng dân cư xung quanh sao cho khai thác tối đa các nguồn lực: (1) nguồn nguyên liệu; (2) nguồn nhân lực; (3) nguồn tài nguyên thiên nhiên và (4) khả năng quản lý, vận hành cụm CN-TTCN song hành với hệ thống hành chính Tỉnh, Thành phố. Do đó, phương pháp mô phỏng và đánh giá sự giao thoa nguồn lực sẽ có thể là công cụ mang tính chiến lược, hữu hiệu cho cụm CN-TTCN này.
b. Mô phỏng những ảnh hưởng, tác động từ hoạt động của cụm CN-TTCN
“Simulation” được hiểu như một mô hình khép kín được tính toán từ: 1)đầu vào (input) của nguồn (hình vẽ 3); 2)những sản phẩm chính- phụ thông quá trình vận hành; 3)đầu ra là thành phẩm cuối cùng của mỗi dây chuyền. Bên cạnh đó, hoạt động của cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên sẽ có những ảnh hưởng và tác động nhất định qua hai loại dây chuyền chính đó là: dây chuyền tổng thể và dây chuyền trong mỗi XNCN theo từng tính chất, loại hình và đặc điểm chung của chúng.
(*) Dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN
Mục tiêu của dây chuyền đặt ra gắn liền với tiêu chí phát triển chung cụm CN-TTCN sao cho tác dụng, ý nghĩa của nó đóng góp tích cực vào tiến trình sản xuất qua đó tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng dân cư khu vực, một số mục tiêu đó là:
+ Bảo vệ môi trường phát triển bền vững đô thị và vùng lân cận
+ Nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân cư
+ Giải quyết triệt để hiện tượng “nóng cục bộ”
+ Sử dụng hiệu quả nguồn lực, và xử lý chất thải công nghiệp
+ Hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế-xã hội và gần gũi với thiên nhiên (green productions và environmental friendly)
+ Tạo hành lang pháp lý nổi trội cho hoạt động, hấp dẫn đầu tư vào cụm CN-TTCN
Những điều này luôn gắn liền với sự tồn tại lâu dài cụm CN-TTCN bởi những ràng buộc nhất định có ý nghĩa thúc đẩy nhanh quá trình HĐH-CNH khu vực. Qui hoạch bước đầu xem xét, xác định và định tính những yếu tố bất lợi có thể khi đưa vào vận hành bằng cách phân loại nhà máy theo múc đô ô nhiễm như các XNCN: (1) sạch ; (2) có thể gây ô nhiễm; (3) ít gây ô nhiễm; (4) ô nhiễm và sau cùng các “chất thải đã qua sử dụng triệt để” được đưa vào khu xử lý làm sạch nhằm đảm bảo tiêu chuẩn cho phép trước khi thải vào hệ thống thoát chung của Thành phố thông qua hệ thống quan trắc (monitoring) và bảo vệ tối đa, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên được diễn hoạ ở hình vẽ 3.
Phải nói rằng, việc bố trí các hình thái kiến trúc CN ở đây sẽ tạo nên một bộ mặt kiến trúc- cảnh quan đô thị khang trang, hiện đại phù hợp, hài hoà với công năng, cụm dân cư và đặc biệt là tuyến quốc lộ 3 huyết mạch liên kết Thái Nguyên với Hà nội nói riêng và vùng Việt Bắc nói chung. Để tránh lặp lại trường hợp trên tuyến quốc lộ 5, cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên được kết nối những dải cây xanh cách ly cùng với khoảng lùi lớn rất linh hoạt cho quá trình phát triển đô thị cũng như khả năng nâng cấp, mở rộng quốc lộ 3 tới năm 2010.

(*) Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN
Dây chuyền khép kín trong mỗi XNCN là thành phần cấu thành nên dây chuyền tổng thể cụm CN-TTCN này, nó được lồng ghép thích hợp vào trong vòng quay chung và đóng góp vào sự thành công của mô hình phát triển bền vững tương lai. Mỗi dây chuyền đó cần phải được tính toán thông qua các tiêu chí cụ thể về: (1) công nghệ; (2) hiệu quả kinh tế; (3) chất lượng sản phẩm ; (4) quá trình vận hành, bảo trì và (5) niên hạn. Để có thể xuất khẩu sản phầm có chất lượng và hội nhập quốc tế thì việc khuyến khích áp dụng các tiêu chuẩn ISO 9000, 9001, đặc biệt ISO 14000 hay hệ thống EMS (Environmental Management System) sẽ làm tăng hiệu quả khai thác dây chuyền khép kín cũng như dây chuyền tổng thể vô cùng lớn.
c. Đánh giá vòng đời của dự án qui hoạch (Life Cycle Assesment)
ở từng giai đoạn phân kỳ sẽ phân định những tiêu chuẩn cụ thể, chi tiết nhằm đưa ra những đánh giá xác thực tại thời điểm đó, qui trình này sẽ được thực hiện liên tục và lâu dài trong toàn bộ quá trình hoạt động cụm CN-TTCN. Dựa trên những kết quả từ các trạm quan trắc “monitoring” phối kết hợp với cơ quan chuyên ngành để đưa ra những điều chỉnh cụ thể nhằm làm tăng giá trị và thời gian hoạt động cụm CN như đã định từ thửa ban đầu đảm bảo thành công cho mô hình phát triển bền vững.
Qui hoạch chi tiết Cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên là minh chứng cho xu hướng phát triển cho sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với ngành công nghiệp, lĩnh vực chủ chốt trong nền kinh tế cho quá trình HĐH-CNH. Đặc biệt mô hình CN-TTCN theo xu hướng phát triển bền vững ít nhiều có tác động giảm thiểu nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển đô thị-nông thôn trong giai đoạn mới của đất nước.
+ Tài liệu tham khảo
1. Statistic publishing house, “Master plan of sectors and National programs in Vietnam to the years after 2000”, Hanoi, 12.1997.
2.Bộ xây dựng. Quy hoạch quản lý và phát triển các khu công nghiệp ở Việt nam, Nhà xuất bản xây dưng, Hà nội, 1998.
3. NMH, QHCT cụm CN-TTCN thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên, Viện Quy hoạch ĐT-NT, Hà nội, 6.2002.
“Riverside City” Indispensable Trend in Urban Development
Thành phố bên sông xu hướng tất yếu của phát triển đô thị
(Construction Journal, 2002/ Tạp chí Xây dựng, 2002)
Đầu những năm 70, mọi vấn đề liên quan tới các con sông đã gây nhiều điều đáng chú ý ở châu Âu, và châu Mỹ và điều này vẫn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi theo chiều hướng khác nhau cho đến ngày nay. Bởi quanh các con sông, bờ sông là hệ môi trường sinh thái, không gian đô thị- vùng và các dấu ấn lịch sử đã và đang tồn tại nơi có những dòng chảy- êm dịu- hiền hoà hay dữ dội. Vào thời điểm này, đô thị đã phát triển và lan toả khắp mọi nơi, mọi chỗ với những tiềm năng sẵn có của từng vùng, tạo nên mạng lưới đô thị dầy đặc trên thế giới. trong đó rất nhiều đô thị coi những dòng sông như một phần “cơ thể đô thị” không thể tách rời. Vì vậy, phát triển đô thị bên sông trở thành xu hướng mới của nhiều quốc gia trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. những lĩnh vực quan tâm chính trong hình thức đô thị này được tập trung chủ yếu vảo: môi trường sinh thái (ecology), nguyên tắc thẩm mỹ (art principles) và quy hoạch sử dụng đất kết hợp với điều kiện địa lý nhằm bảo đảm sự phát triển bên sông một cách bền vững khi qua các thành phố hay ngoại vi lân cận.
Cùng thời gian, một nghiên cứu tổng hợp về 15 con sông (arno-florence; canals-venice; amstel, canals- amsterdam; seine-paris; seine, oise và marne-paris region; saone,rhone-lýon; limmat, sihl-zurich; thames-london; lea-london; ruhr-ruhr region; rhine, meuse-rotterdam; tyne-tyneside; potomac- wasington, d.c; charles-boston và hudson-newyork) và thành phố bên sông trên thế giới được thực hiện bởi mối đe doạ suy thoái, phá vỡ cân bằng sinh thái đã trở thành một vấn đề mang tính quốc gia và toàn cầu. Thêm vào đó, cách mạng công nghiệp bùng nổ cũng là thời điểm thế giới bước vào một kỷ nguyên suy thoái môi trường và con người thiếu nhận thức về môi trường dẫn đến mức độ nhiễm càng thêm trầm trọng và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ví dụ cho thấy, ô nhiễm nguồn nước ở một vài nơi đã có những tác động trực- gián tiếp gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng và sự thịnh vượng (welfare) của xã hội. trong khi dòng chảy của mỗi con sông đều liên quan trực tiếp tới mạch nước ngầm trong lòng đất.v.v.. mà nguồn gây ô nhiễm lại chủ yếu từ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con người, thông qua các chu trình carbon và nitơ và phốtpho (carbon, nitrogen, phophorus cycle) gây nên sự suy thoái nguồn nước nghiêm trọng. Đối với vùng ven sông, thượng-hạ lưu sông thường là những nơi khá thuận lợi cho sự phát triển đô thị và những thành phố lớn- trù phú với công nghiệp tập trung qui mô lớn và các công trình công cộng- xã hội (utilities) phản ánh qua từng thời kỳ lịch sử.
Nguyên nhân khiến cho các lưu vực sông trở nên rất quan trọng bởi đó chính là sự giao thoa giữa đất, nước, không khí với thiên nhiên. Nơi mà con người tìm kiếm cơ hội sinh tồn và các hoạt động nhằm khôi phục nội lực bản thân như nghỉ ngơi, thể thao…với sự tăng trưởng kinh tế phần nào làm thay đổi các mối quan hệ xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống (qol), song nền văn minh đô thị công nghiệp đã thất bại khi phải đối mặt với những tham vọng lạm dụng hai bên bờ sông và đã tự huỷ hoại môi trường sinh thái, cảnh quan…xảy ra trong thời kỳ hậu công nghiệp.
Sự huỷ hoại đó diễn ra hai bên sông qua vùng đô thị không chỉ là một vấn đề giản đơn như bề nổi vẫn thấy mà phức tạp vô cùng. Tuy nhận thức về môi trường của con người ngày nay dần cải thiện, song nhu tiêu dùng nước ngày càng gia tăng gây lãng phí, làm kiệt quệ nguồn nước và các nguồn khác. Do đó, các dòng sông hiện đang phải chịu những tác động rất lớn do các thành phần đô thị đã và đang gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái sông. để đánh giá được điều này thì lợi ích kinh tế -xã hội đã và đang chứng minh khả năng sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên là hợp lý hay bất hợp lý qua thời gian.
Nếu như con người có trách nhiệm trong quản lý đô thị thì cái “được”-“mất” về môi trường sinh thái và xã hội sẽ được cân nhắc kỹ lưỡng để tìm ra những giải pháp tối ưu sao cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên cần phải: (1) giảm việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên; (2) ngăn chặn suy thoái môi trường: đất, nước, không khí và cảnh quan…; (3) tái sử dụng nước và những nguồn có thể; (4) tập trung hoá đô thị và phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng với nhu cầu con người trong môi trường thiên nhiên. Để có thể thực hiện thành công tôn chỉ này, các bên liên quan (stakeholders)-cộng đồng sẽ phải đưa ra những công cụ quản lý hiệu quả như: thể chế (qui định, tổ chức và quy trình quản lý), quy hoạch đô thị và kỹ thuật tương thích..v.v.
Những phương pháp quy hoạch, hệ thống thể chế mới – hiệu quả trở thành những yếu tố quan trọng và bắt buộc đối với sự tồn tại vĩnh cửu của những dòng sông trong quá trình phát triển bền vững. ở mức độ khu vực, những qui định về sức khoẻ cộng đồng, sử dụng đất đai, cân bằng sinh thái, bảo tồn những vùng đất trù phú, tạo không gian thoáng và chương trình phát triển đô thị cần phải liên hệ chặt trẽ nhằm bảo vệ hệ thống cảnh quan thiên nhiên bên sông. đồng thời, cung cấp những lưu vực tốt nhất tạo quĩ đất xây dựng thích hợp đối với toàn bộ quá trình phát triển.
Cảnh quan sông là một vốn quí mà tạo hoá để lại gắn liền với những dấu ấn văn hoá, lịch sử tồn tại cho đến ngày nay. đối với vùng nông thôn, mặt nước và thảm thực vật đã tạo nên quần thể sinh thái-cảnh quan trên lưu vực sông xen lẫn những hoạt động thuần nông của người dân chân chất. Đối với vùng thành thị sự đánh dấu của con người đã tạo nên những hành lang ở từng thời điểm xây dựng, song mặt trái lại là những mâu thuẫn tồn tại với các mối quan hệ phức tạp-logíc của thiên nhiên. Khu vực thành phố thường có cấu trúc cảnh quan rất nổi trội và mang đậm tính chất, bản sắc cũng như đường nét riêng biệt của khu vực. Như ở paris, những toà nhà cổ kính soi mình xuống dòng sông đã tạo nên hành lang cảnh quan tuyệt vời, mà qua đó thành phố càng được tôn vinh hơn bởi dòng chảy êm đềm. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp người ta đã làm cho dòng sông trở nên phức tạp, lộn xộn và đánh mất những gì vốn có của con sông do thiên nhiên sắp đặt.
Sự hình thành những vùng đô thị trong hành lang sông là rất đa dạng với thành phần: khung cảnh thành phố, khối tích nhà, công trình công cộng và cảnh quan thiên nhiên- hoang dã…cũng cần phải được phát huy một cách thiết thực. Do đó, mô hình thành phố bên sông với những ưu-nhược điểm kết hợp kinh nghiệm các nước trên thế giới sẽ cho chúng ta thấy bức tranh tổng thể và đa dạng sau đây:
Sông Thames, London- Anh.
London được mệnh danh là một thành phố “xanh”, người dân thành phố rất tự hào về hệ thống công viên, quảng trường và lớp thảm thực vật quanh thành phố. sự đa dạng về loại hình kiến trúc, nghệ thuật tạo hình- điêu khắc.v.v. và mạng lưới giao thông phát triển đô thị theo hướng phi tập trung bên sông. Tuy nhiên, London cũng là một thành phố công nghiệp lớn trong nhiều năm cùng với nhiều vấn đề phức tạp và gây ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống (QOL) nói riêng và cuộc sống đô thị nói chung.
Trải qua những năm khủng hoảng của thành phố, thì ngày nay sông Thames là một phần mang lại nhiều ý nghĩa và hy vọng cho người dân đô thị. Hiện sông Thames là một trong bốn con sông hoàng gia dưới sự bảo vệ của các triều đại nữ hoàng, và là một con sông mạng đậm chất nghệ thuật, kiến trúc và lịch sử. sự hiện diện và duyên dáng của hệ mái vòm thánh đường Christopher Wrens, nhà thờ St. Paul là một mốc hiệu nghệ thuật hoà quện với kiến trúc cổ điển của toà nhà quốc hội, cầu Tower (xây dựng thế kỷ 19), và tháp London (thế kỷ 17) mang lại những sắc thái nghệ thuật kiến trúc dặc trưng bên sông. london cổ kính bởi các công trình dân dụng, tôn giáo, chính trị… cùng những cấu trúc hiện đại tạo nên bộ mặt đô thị khang trang. Tuy nhiên, để phát triển thành phố vào thế kỷ 18 một số toà nhà bị dỡ bỏ nhằm mở rộng hệ thống giao thông và lúc đó nhiều tiên đoán cho rằng cây cầu Tower cũng sẽ bị dỡ bỏ trong thế kỷ 19 song điều này đã không thành hiện thực và ngày nay giá trị của công trình này là vô giá.

Sông Thames- Đầu TK20
Sông Potomac- Washington, D.C.
Sông Potomac qua Washington, D.C là một ví dụ điển hình đã đem lại những bài học giá trị lớn cho các quy hoạch gia Mỹ kể từ khi thành phố Columbia được ví như thủ phủ của nước Mỹ năm 1791, một số quy hoạch vùng và đô thị đặc biệt đã được nghiên cứu và ít nhiều liên quan tương hỗ với Washington và phần dòng chảy qua thành phố này.
Sự phát triển thành phố bên sông được trải qua một số giai đoạn (1) quy hoạch thành phố Columbia năm 1791 của l’enfant; (2) Mcmillan năm 1902; (3)quy hoạch hệ thống công viên- sinh thái quốc gia năm 1929; (4) qui hoạch chính sách tới năm 2000 và (5) quy hoạch lưu vực sông Potomac.
Đáng chú ý phải kể đến quy hoạch lưu vực sông Potomac được thực hiện giữa những năm 1966 và 1968. Nghiên cứu tập trung vào việc bảo vệ nguồn nước, bảo tồn các dải ven sông, đồng thời tạo nên những cảnh quan đẹp bên sông quốc gia. Bên cạnh đó, công viên quốc gia cũng trở thành một trong những hành lang bên sông được bảo vệ thông qua thể chế của nhà nước. Vai trò của dòng sông là giải quyết hàng loạt vấn đề quanh vùng và washington: cấp nước, xử lý ô nhiễm môi trường- nước thải, kiểm soát lũ lụt và điều hoà dòng chảy, chống sói sụt-lở đất, quá trình bồi đắp và đóng góp những giá trị sinh thái rất có giá trị.

Hệ dòng chảy Potomac qua các lưu vực & sự phát triển bên sông
Việc kiểm soát sử dụng, phát triển bên sông thực hiện do chính quyền liên bang và các nhà chức trách khu vực theo đề xuất của Potomac river compact với 6 thành viên từ các bang Virginia, Maryland, West viginia, Pennylvania, một từ Columbia và chính phủ liên bang.
Năm 1963 tập đoàn kỹ thuật quân sự Mỹ đề xuất xây dựng khoảng 60 hồ chứa lớn (reservoirs) tại các lưu vực của sông nhằm điều hoà dòng chảy cũng như bảo vệ cảnh quan bên sông. Phần lớn những hồ chứa được bố trí ở các nhánh sông, kết hợp hài hoà và tạo nên những cảnh quan hiếm có của Shenandoah. Những hồ chứa lớn nhất được đặt phía cuối sông Potomac, nơi đây đã tạo nên một thuỷ điện lớn great falls của đất nước và của khu vực.
Những năm sau, một nhóm quy hoạch thuộc viện nghiên cứu kiến trúc mỹ được thành lập nhằm giải quyết thêm vấn đề của Potomac và được gọi là lực lượng thực hiện quy hoạch Potomac(Potomac planning task force). Kế hoạch đề ra những mục tiêu phải đảm bảo sự chỉnh trang thích hợp cảnh quan và khai thác nguồn lợi sinh học tại các lưu vực và nhóm này đã đưa ra những quan niệm mới cho Potomac như sau:
con sông: bao gồm mặt nước, hệ thống kênh của potomac và các nhánh sông gắn liền và phát triển dòng chảy.
bờ sông: là những vùng hành lang bên sông
môi trường sông: là những vùng nằm trong phạm vi bán kính 10km.
Quan niệm tiếp theo cũng rất quan trọng bởi nó sẽ thiết lập phía truớc sông Potomac ranh giới về kiến trúc-cảnh quan và sinh thái. Quy hoạch gia Mcharg- trưởng khoa kiến trúc cảnh quan thuộc đại học Pennsylvania, đã ủng hộ tích cực qui hoạch có liên quan tới môi trường sinh thái bởi ý nghĩa của việc sử dụng đất sao cho phù hợp với cơ sở hạ tầng kỹ thuật- xã hội đặc trưng của vùng và khu vực.
Và kết quả dự kiến của bản qui hoạch sẽ tạo nên một tổng thể hài hoà với thành phố theo trật tự, nguyên tắc và nhấn mạnh yếu tố bảo vệ môi trường cho đô thị và thiên nhiên. Nếu những thử thách đối với sông potomac vượt qua thì nơi đây sẽ cho chúng ta thấy hệ không gian cảnh quan bên sông tuyệt vời như bản qui hoạch đã định cho thành phố một cách đồng bộ.
Sông Limmat and Sihl- Zurich
Zurich là một thành phố của Thuỵ sỹ, trải dài từ phía bắc biển Zurich, kéo dài khoảng trên 60km uốn lượn từ tây sang tây bắc theo triền dốc của Schwyz alps. Zurich giống như Lyons và Pittsburrgh là nơi tập trung của hai con sông. Limmat và Sihl không lớn như những sông Rhone, Saone hay Monongahela, Allegheny, song có thể nhận ra những nét riêng từ dòng chảy, địa hình và số lượng cầu vượt qua sông cũng như những cảm nhận đặc biệt bởi một phần nổi lên của hòn đảo như con thuyền bồng bềnh trên mặt nước.
Sông Limmat là con sông lớn trong hai dòng sông đổ ra biển Zurich và đóng vai trò chiến lược trong quá trình phát triển thành phố. Người Thụy sỹ đã định cư trên dải sông này từ khá sớm tại những nơi giao nhau của các con sông, các tuyến đường qua Limmat tới thung lũng và hợp nhất với dòng Rhine. Vì vậy, Limmat trở thành xương sống chính của thành phố ngày nay.
Dòng sông Sihl cách biển Zurich khoảng 50km, bám dọc và song song với phía tây Zurich cho đến khi nhập vào dòng sông Limmat. Các dải đất được phủ xanh với các loại cây bụi đa dạng phát triển tới phía đông. Trung tâm thành phố hiện ghi lại nhiều dấu ấn gắn liền với limmat. Do đó, sự phát triển hướng tây Zurich không thu hút đựoc nhiều sự chú ý, có lẽ điều này giải thích tại sao sihl nằm trong vùng ảnh hưởng và mục tiêu phát triển của các nhà đô thị. Đơn giản, nó là một trong vùng có cảnh quan thiên nhiên đã được quản lý- bảo tồn cho quá trình phát triển đô thị từ khá lâu.

Dự án đường cao tốc trên cao dọc sông Sihl
Quá trình đô thị hoá diễn ra đòi hỏi các nhà qui hoạch cần phải thiết lập các dự án phát triển, trong đó dự án Sihl được quan tâm đặc biệt. Dự án đường cao tốc này đã được cơ quan liên bang thẩm định và là một phần trong chiến lược phát triển mạng đường giao thông quốc gia. trong những năm 1950, chương trình đường cao tốc đã được khởi công hai bên bờ sông Limmat và Sihl qua khu vực trung tâm zurich. Do một vài lý do, dự án này chỉ được thực hiện đối với tuyến qua Sihl bởi tuyến đường cao tốc qua Limmat sẽ phá vỡ cấu trúc bên sông, chia thành phố thành hai phần tách biệt và hạn chế phát triển đô thị.
Tuy nhiên vấn đề cao tốc Sihl đã không còn quá nghiêm trọng bởi những nghiên cứu xoay “đường cao tốc” của các nước thế giới công nghiệp vẫn liên tục diễn ra cho đến nay. Tuy nhiên, một điểm lưu ý là quá trình đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với quy hoạch đường cao tốc Zurich- Sihl đã được thực hiện cụ thể, chính xác đã giúp cho các nhà quản lý đô thị hiệu quả trong xây dựng tuyến đường. Toàn bộ tài liệu eia và các thông số kỹ thuật liên quan tới môi trường đều được công bố rộng rãi bởi tính tích cực của nó đối với công tác xây dựng. Cuối cùng, Zurich đã có thể tìm được một giải pháp hữu hiệu để giữ lại hình ảnh nguyên vẹn trải dài 5km theo sông, thúc đẩy – phát triển đầy đủ mọi chức năng dọc bên sông và cung cấp tuyến đường cao tốc liên khu vực mà không phá vỡ cảnh quan sông nói chung.
Sông Hồng- Hà nội
Hà nội đã có gần 1000 năm hình thành và phát triển với nhiều dấu ấn tuyệt vời. Qua thời gian, cho đến nay rất nhiều dự án nghiên cứu về thủ đô Hà nội do nhiều cơ quan tổ, chức thực hiện. Một trong số đó là đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thủ đô hà nội do viện qui hoạch Đô thị- Nông thôn và viện qui hoạch Hà nội thực hiện đã được thủ tướng chính phủ phê duyệt theo QĐ số 108/1998/qđ-ttg ngày 20/6/1998 với :
quy mô dân số toàn khu vực đô thị Hà nội phát triển khoảng 4,5-5,0 triệu người (năm 2020) trong đó trung tâm thành phố Hà nội 2,5 triệu.
nhu cầu đất xây dựng tới năm 2020 là 25.000ha,
Hà nội là đô thị cải tạo và mở rộng với cấu trúc các khu vực đặc trưng chủ yếu:
khu hạn chế phát triển
khu ngoài hạn chế phát triển và phát triển mở rộng (hữu ngạn sông Hồng)
khu vực phát triển hà nội mới (bắc sông Hồng)
Do đó, vai trò sông Hồng trở nên đặc biệt quan trọng với khoảng gần 40km dài chảy qua hà nội và 3 cây cầu vượt qua sông Hồng (khu vực Hà nội) là cầu Thăng long, Chương dương và Long biên . Ngoài ra, một vài chương trình chính được định hướng và phát triển hai bên sông như:
chương trình đầu tư, bảo vệ môi trường gồm: nghiên cứu, lập qui hoạch môi trường ở các khu công nghiệp, khu đô thị và ven sông hồng, cổ loa, hồ tây… (1)
dự án xây dựng nhà máy xử lý nước mặt sông hồng với công suát 130.000m3 đến 500.000 m3/ ngày (2)
và hàng loạt các dự án qui hoạch các quận- huyện- xã, cải tạo đê kè hai bên sông hồng thuộc địa bàn hà nội (qhct huyện từ liêm, thanh trì..v.v..).

Sông Hồng trong qui hoạch tổng thể Hà nội
(?) Câu hỏi được đặt ra: thực tế sông Hồng hiện nay ra sao? liệu dòng sông có trở thành xương sống chính của thủ đô Hà nội trong tương lai? giống như các con sông trên thế giới ?.
Nếu quan sát dòng chảy sông Hồng từ phía nước bạn TQ, qua tỉnh Lào cai-là vùng đầu tiên phía việt nam, cho thấy dòng chảy chính là sự kết hợp của nhánh Nậm thi và Sông hồng. Dòng chảy khá xiết, nhiều vùng soáy lớn nhỏ trên bề mặt dòng chảy, độ đục lớn- tạo nên bên lở_bên bồi rõ rệt. Đặc biệt, vấn đề môi trường sông cần phải đựoc đặt ra một cách nghiêm túc bởi có rất nhiều phế thải (gỗ vụn, giấy loại, chai, lọ…) đã được dòng chảy từ phía bạn đưa sang nước ta. Và sông Hồng tiếp tục chảy qua Yên bái, Phú thọ, Vĩnh phúc, Hà nội, đến Hưng yên, Thái bình, Nam định rồi đổ ra Biển đông.
Hiện nay, sông Hồng trở thành tuyến đường thuỷ chủ yếu phục vụ cho việc chuyên chở hàng hoá vật liệu xây dựng, than, xi măng… từ tỉnh ngoài về với 90% lượng hàng. Chỉ có 10% hàng của Hà nội được xuất đi tỉnh khác và nhiều nhất cũng chỉ là đồ gốm sứ, có đến 80% phương tiện của tư nhân, còn lại là của doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra, vấn đề bức xúc nữa phải kể đến nạn khai thác cát có và không phép ở khắp nơi trên sông Hồng nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển đô thị. Theo qui định của chỉ thị 03/1999/ct-ttg thì giấy phép hoạt động khai thác cát (17 giấy phép) hết hiệu lực sẽ buộc phải dừng hoạt động. Song điều này không ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị và làm phát sinh thêm các hình thức khai thác cát hút trên sông bằng các tàu, thuyền cỡ nhỏ và trung bình của tư nhân.
Rồi hậu quả chỉ ra là dòng chảy sông Hồng ngày càng biến đổi ngày càng lớn, và có xu hướng tạo các mạch nước ngầm ăn sâu hơn vào lòng đất. Trong những năm 1999, 2000 hàng loạt các vụ sụt lở đã diễn ra trên toàn tuyến sông Hồng và nghiêm trọng nhất là vụ sụt lở tiểu khu Nghĩa dũng (cũ)- thuộc bộ kiến trúc (cũ), chỉ sau một đêm hàng chục ngôi nhà bị lật nhào- mất tăm. Dãy nhà ven sông gần như bị “xoá sổ”. Đây là một hiểm hoạ tiềm ẩn nếu như dòng chảy sông Hồng bị đổi dòng và rồi những lạch ngầm sẽ tiếp tục xoáy vào khu dân cư ven sông, vào thân đê và những trụ cầu…
Quả thật, vấn đề sông Hồng còn phải bàn nhiều và cần có sự tham gia của các ban, ngành, cơ quan chuyên môn, các chuyên gia và cả những cộng đồng dân cư dọc hai bên bờ sông hồng. Song, một điều chắc chắn rằng sông Hồng được khai thác hiệu quả, phù hợp sẽ trở thành khu vực sinh thái- cảnh quan lớn cho Hà nội và cả vùng. đồng thời là ví dụ điển hình cho các con sông khác của nước ta.
Lời kết
Qua một vài ví dụ trong nuớc và trên thế giới cho thấy đô thị hiện đại đã coi những dòng sông là những thung lũng mở cuối cùng của các thành phố phát triển, và là nguồn tài nguyên thiên nhiên cuối cùng để con người có thể tiếp cận và tận hưởng những giá trị vô giá của nó đem lại. Đó là hệ thống cảnh quan-môi trường sinh thái và đòi hỏi mức độ quan tâm đặc biệt trong công cuộc bảo tồn và phát huy tài nguyên thiên nhiên còn lại. Hơn nữa, bất kỳ tác động nào ảnh hưởng đến dòng sông, hai bên sông sẽ cần phải đáp ứng được những hy vọng, mong muốn của xã hội- cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng môi trường đô thị , cũng như phát triển đô thị bền vững trong tương lai.
Tham khảo:
+ Roy mann., “rivers in the city”; david& charles newton abbot- great britain, 1973.
+ Bộ xây dựng., “quy hoạch xây dựng các đô thị”; nxb-xây dựng, 1999.
+ Trọng nghĩa., “sông hồng”; antđ 757, 2002.
+ Tường lâm., “dùng nước mặt sông hồng cấp nước sinh hoạt?”, antđ 797, 2002
+ Eldon, bradley., “environmental science”, wcb, u.s, 1995.
Tản mạn- BÉO!
Lâu lâu lại được dịp “mổ cò” bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, cái thứ ngấm vào mình từ khi chưa sinh ra- thế mà nó chỉ được phát huy bằng lời nói trên cái xứ Tây- Châu Á nhiều màu Singapore này mới lạ chứ. Nhân dịp có anh bạn nói về “giảm cân” nên chợt nảy ra ý định viết về chuỗi tạp văn có chủ đề “một chữ” duy nhất để coi nó thú vị ra sao. Bắt đầu bằng chủ đề “Béo” nhỉ…
BÉO
Số là- làm gì vất vả sẽ đều hao sức, hao tâm- tổn trí thì – sao béo nổi. Ấy thế làm việc kiểu đầu óc- mệt thật- mà sao ai cũng béo!!. Không phải béo một số chỗ như nhiều người tưởng mà béo toàn thân, có điều mỗi nơi phát triển một kiểu và không đều chút nào cả.
Càng béo- càng ăn “như tằm ăn rỗi” và đồ càng màu mỡ càng thích- tỷ lệ thuận với nhau. Cái này thấy rõ ở mấy nước phương Tây, châu Á phát triển và cũng là thứ bệnh của mấy nước mới nổi lên- trong đó có VN. Rõ nhất là mấy lớp thế hệ trẻ ở nhà gần đây, mới chỉ thấy hơi hướng của “phát- phút” (fast food: đồ ăn nhanh) từ Sing hay Thái (Thailand) (những năm 1999-2000) đã béo phây phây… đến khi Mac, KFC hay B&B, Burger King vào thì thật khủng khiếp. Con người cứ phình ra trong khi nhà cửa, đất đai và đường phố chẳng to lên chút nào. Đúng là “nghich lý” xã hội- cuộc sống của người giàu! Rốt cuộc tới lúc “Người giàu cũng khóc” như dân ta vẫn nghiệm.
Cái “béo” bây giờ cũng đa dạng đến lạ thường: béo khỏe khoắn, béo xinh đẹp, béo quay, béo bệu, béo trắng, béo tròn, béo phì và béo lệch (béo không cân xứng) hay béo hướng nội (fat- insight) [(cái này mình tự gọi tên)- những người trông rất gầy mà có mỡ trong máu]- lạ quá. Cuộc sống cũng tạo nên nhiều sở thích phong phú, họ thích nhau theo kiểu “béo này- béo kia”- vừa khớp như in “cái vòng tròn lưỡng cực âm dương”; ngược lại có người lại sợ béo vô cùng!!! Vì thế cái nhận thức về “Béo” ở mỗi người nên chăng cần xem lại??.
Để giảm béo có rất nhiều cách. Phổ biến nhất là thể thao, nhịn (giảm) ăn hay lạm dụng các loại thuốc. Thể thao đúng bài bản, điều độ.. quá tốt khỏi bàn tới. Còn lạm dụng nó- lại là vấn đề khác.
“Nhịn ăn”- nghe hay đấy!!! ấy thế mà mỗi ngày ông NET hô hào một kiểu khác nhau. Loạn quá!. Báo nói hay lắm, nhịn ăn sáng cộng uống café đen đậm đều đặn mỗi ngày cho tới khi- tớ thấy ông anh hàng xóm giảm cân thiệt nhanh chóng, đi đôi giầy, gầy- xanh xao như tầu lá chuối; để rồi mỗi lần gió lên đều chạy đi lánh nạn… rõ sướng!. Bản thân tớ cũng thử, thấy có chút- chút hiệu quả, nhưng cái đầu ngấm café cứ quay- quay, say- say rồi tây- tây cóc làm được gì, nên trút hết bực tức vào bữa trưa hoành tráng. Đâu lại vào đó, chẳng thấy giảm cân kẹo gì hết… mà thậm trí tăng ngược mới quái chứ. Hay cái cân ở Trio-3 sai nhỉ?? Hy vọng là vậy.
“Dùng thuốc” (cái này không thạo lắm)- song thấy nhiều người dùng trà giảm béo, trà thanh nhiệt gì đó và uống lấy- uống để cho no “căng cái da bụng, trùng con mắt” -giảm ăn. Cái triết lý giản đơn: “Cứ dung nạp cho đến khi trời mưa” là Ok… thật sai lầm hết sức. Sai ở chỗ: Uống suốt ngày, cơ thể tích nước nhiều- người cứ phồng tướng lên. Cuối cùng BS kết luận một câu xanh rờn “Béo hơi” (thêm một loại béo mới) rồi lo mà về ép cân- ép kẹo, bóp mồm- bóp miệng như kiểu thời thuộc địa những năm 30-45 ấy. Đúng là sướng quá hóa khổ!!!
“Thể thao” hả? bài thuốc này để cho anh bạn kế bên chia sẻ- Ở ĐÂY.
Hoạt ngôn: “Béo khỏe- béo đẹp”!. Have fun.
(*) CN_Trưa hè oi ả_333Cle, S’pore
Improving the Urban Living Environment through Open Space Management in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam
IMPROVING THE URBAN LIVING ENVIRONMENT THROUGH OPEN SPACE MANAGEMENT: A CASE STUDY OF THE “36 OLD STREETS” QUARTER OF HANOI, VIETNAM
(Published in: Asian Institute of Technology, Thailand)
Abstract
Improving urban living environment is one important target for large cities in developing countries. Hanoi is one such city, with a rich cultural heritage reflecting nearly 1000 years of history. Open space management is key element of improving the living condition of Hanoi’s core, the ‘36 Old Street Quarter’.
Implementation of the policy of economic reform (doi moi) led to increase urbanization, causing disappearance of open space and a serious deterioration of living condition. Flawed institutions have also significantly influenced open space management. Thus, to manage effective those areas, institutions need also to be reformed.
The study is a descriptive research through sampling, interviews and secondary data to analysis existing issues in term of open space management. The main problems are over-complicated legal provisions, structure and implementation process for managing courtyards in tube houses and recreational grounds in old quarter.
In order to address these issues, specific strategies for establishing guidelines are proposed. These are regulatory simplification and adjustment, decentralization of decision- making and simplification of management process. Finally, an action plan is necessary to implement strategies successful towards effective and efficient management of open space as well as best community participation for future ‘36 old street quarter’.


More info: AIT Library
Downloadable contents:
Acknowledgement; Table of Content
Chapter 1; Chapter 2; Chapter 3; Chapter 4; Chapter 5; Chapter 6; Chapter 7 & 8 (to be uploaded upon request)
This publication is copyrighted. You may download, display and print it for Your own personal use. Commercial use is prohibited.
“Spirit” of Hanoi Ancient Urban Area and Its Heritage
(Published in: Construction Planning Journal, Vol. 22 [4] 2006, pp.39-41)
Summary
Ancient “spirit” for anybody, it may be whatever is going to be existed, such as a vendor, unsteady street, an old house surrounding … They are physical basic partials created ancient “spirit” long time ago.
Ancient streets at present have become partly indispensable in each of us line an ancient street hidden a magnanimous period with a lifestyle, culture, belief and changes towards better future.
“Spirit” of present ancient house is intangible value which had in the past. If we can not see the value for preservation, the house will be lost its actual attraction. To push “spirit” into the house is the necessary must be carefully considered and respected “speakable things” to speak out the value of space, time, unique lifestyle of specific house.
Examining Conservation Possibilities on Reciprocal Relations between the built Environment and Heritage User: A case study of 36 Old Streets Quarter in Hanoi, Vietnam.
Ngo Minh Hung, Wong Yunn Chii, Heng Chye Kiang
(Accepted in: HERITAGE 2008 International Conference, Portugal)
Abstract
The Old Quarter of Hanoi, implies the commercial area- “Kẻ Chợ” outside the Royal Citadel, is considered the best place to experience the spirit of the one thousand year old Hanoi with values- tangible: urban fabric, tube-house architecture and historic-cultural- religious buildings; – intangible: lifestyle and ethnic standard of natives, traditional guilds with its streets (Hàng) bearing the names of the goods manufactured on them. Change of the built environment in the Ancient Quarter has been challenging heritage users (local authority, native, merchant) before current market-oriented mechanism of mega-city like Hanoi. Over the past 25 years, such three pilot projects of building preservation within Hanoi Ancient Quarter (HAQ)- covering over 800 relics that need to be urgently preserved, have been conducted by applied “reproducible preservation method” with the international assistance.
To Hanoi city, community participation plays a vital role in retaining the built heritages, which provide significant functions to the users – who enable to grasp opportunities in use of physical settings. The research aims to assess reciprocal relationship of both key elements (material elements and user’s behavior) in heritage environment (in-outdoor and sharing spaces) of 36 Old Streets Quarter that affords inhabitants (i) perceiving the environment qualities to spring potential opportunities in (ii) utilizing physical settings and; (iii) shaping variously spatial forms; and a cross- comparison of those layers is logically analyzed to formulate a notion of “interplay- preservation” at town and architectural level. It argues that for a sustainable development that would retain the identity of the heritage city, a ground-up framework (GUF) is conceptualized to emphasis on integrating actual heritage condition with traditional methods of indigenous community is recommended.
Keyword: community participation, potential possibilities, GUF, urban heritage
Presentation Slides at 6th APRU Conference, Oregon- USA
Re-planning structure and Socializing conservation of “Hanoi Ancient Quarter” towards Sustainable Urban Development in Vietnam.
(Full paper- Presented in: Annual Association of Pacific Rim Universities Conference, 2005. University of Oregon, USA)
Abstract
Hanoi Ancient Quarter called 36 Old Streets Quarter is just recognized as one of National Heritages including hundreds of valued relics from year 1010 to now. Urban development is being changed town structure and caused social problems loosing its initiated identity. To answer questions “What, Why and How?” so the aim of this paper is to discover historical and urban development process of the Ancient Quarter in terms of socio-economic characteristics, town conceptualizations in the past, as well as to review and evaluate social and community’s efforts in last ten years by applying “dots analytic system” (DAS) which based on sustainable urban design models. In order to re-plan structure and socialize preservation works, some key solutions of sustainable urban development and design are proposed in order to positively conserve and develop original image “Ancient Quarter” of Hanoi City towards sustainable urban development in the future
Key words: sustainable urban development and design, urban planning, conservation, socialization of conservation, DAS’s system.
Greenery Planning For Public Utilities in Urban Areas Design standards
Biên soạn Tiêu chuẩn Xây dựng Thiết kế Quy hoạch Cây xanh Đô thị
(Mã số TC 27-01, hoàn thành năm 2005)
I. Giới thiệu chung và sự cần thiết của đề tài
Nước ta kéo dài từ Mục nam Quan tới mũi Cà Mau với địa hình phong phỳ và đa dạng như vùng đồng bằng, vùng biển, vùng núi và trung du. Với các loại địa hình như vậy dưới quá trình đô thị hóa thì các đô thị của chúng ta phát triển nhanh, mạnh cả về số lượng và chất lượng trong thời kỳ đổi mới này. Số lượng các đô thị phát triển khoảng 600 đô thị, trong đó có 4 thành phố lớn trực thuộc Trung ương, 73 thành phố-thị xã trực thuộc Tỉnh và hơn 500 thị trấn. Qua đó cho thấy hầu hết các đô thị đó và đang phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao-du lịch nhằm làm hạt nhân, động lực thúc đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH.
Đô thị phát triển mạnh càng đòi hỏi sự ổn định, phát triển bền vững trên cơ sở tổ chức hợp lý cơ cấu, chức năng đặc biệt là hệ môi trường sinh thái với thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Mục tiêu chiến lược mà Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực phát triển đô thị đó là xác định từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đụ thị với cơ sở kinh tế- xã hội, kỹ thuật hiện đại, môi trường trong sạch và giữ gìn- phát huy bản sắc dân tộc. Môi trường sinh thái là yếu tố rất quan trọng đối với đời sống nói chung và đô thị núi riêng bởi nó giúp cho con người có môi trường sống và làm việc- lao động sáng tạo, nghỉ ngơi và giải trí tốt nhất. Môi trường sinh thái bao gồm nhiều yếu tố như: đất, nước, không khí, ánh sáng, cây xanh, mặt nước và nhiều yếu tố khác. Trong đó, tỷ lệ diện tích cây xanh đô thị đóng vai trò then chốt trong mỗi đô thị nhằm đảm bảo môi trường, chất lượng cuộc sống cho đô thị và cần phải có một tỷ lệ thích hợp, tương xứng với các loại đất chức năng khác trong đô thị. Vì vậy, tiêu chuẩn cây xanh trong thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị là vô cùng quan trọng và cấp thiết.
II. Giới hạn của đề tài
Căn cứ nhiệm vụ đuợc giao theo HĐ số 54/HĐKT của Bộ Xây dựng về việc thực hiện đề tài khoa học cụng nghệ ngày 20/4/2001 đó xác định tên đề tài và giới hạn cụ thể như sau:
a. Đề tài: Biên soạn TCXD: Thiết kế qui hoạch cây xanh đô thị mã số TC27-01
b. Giới hạn: (1) Nghiên cứu; (2) Biên soạn dự thảo TCXD, thiết kế qui hoạch cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị.
Do vậy, đây là cơ sở quan trọng để đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào tiêu chuẩn cây xanh sử dụng cụng cộng trong các đô thị nước ta. Tiêu chuẩn này sẽ được áp dụng vào thiết kế qui hoạch đô thị và lập các đồ án QHXD đô thị trên toàn quốc.
III. Mục tiêu của đề tài
a. Đánh giá hiện trạng tỷ lệ cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị nước ta.
b. Đánh giá chức năng, vai trò cây xanh trong phát triển đô thị trong nước và nước ngoài.
c. Đề xuất chỉ tiêu đất cây xanh sử dụng công cộng hợp lý để áp dụng trong thiết kế quy hoạch cây xanh cho các đô thị.
IV. Phạm vi nghiên cứu
Cây xanh đô thị theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam Tập 1 (1997)- (Điều 5.11: Cây xanh đô thị, tr.71) gồm ba nhóm chính:
a. Cây xanh sử dụng cụng cộng (công viên, vườn hoa, vườn dạo…)
b. Cây xanh sử dụng hạn chế (trong các khu chức năng đô thị như khu công nghiệp, kho tàng, trường học…)
c. Cây xanh chuyên môn (cách ly, phòng hộ, nghiên cứu thực vật học…)
Downloadable forms (in Vietnamese):
Decision- 01/2006/QĐ-BXD
Cover
The standard and other details
A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam
A View through Paradoxes of Transport Development in Hanoi Ancient Quarter, Vietnam
Ngo Minh Hung, Wong Yunn Chii, Heng Chye Kiang
(Accepted in: Velocity 2007 International Conference, Munich)
Abstract
Hanoi Ancient Quarter, established from Lý Thái Tổ King period (year 1010 A.D), is the core of present Hanoi city as a political, economic centre of Vietnam. From the beginning, a simply mixed urban fabric, namely “Kẻ Chợ”, were gradually appeared by traditional tube-houses built and professional merchant streets named specifically in accordance with rudimentary transport. After ten centuries, this urban context is undamaged, typically square “3-7 meters width” road-network, extreme narrow alley and the house corridor (0.5-1 meter), which are literally fit for an ancient town featuring bicycle, cyclo (xích-lô) and pedestrian street. Unknown travel patterns seen as present are mixing traffic flow causing congestion, conflict and pollution for the Ancient Quarter’s value and, especially poorer community’s living condition. Lacking space to motorized vehicle raises difficulties for Hanoi authority and local dwellers because of various encroachments in bounded areas.
To deal with the research method is conducted to fall in two-folds: (1) re-assess original elements (bicycle, pedestrian and unique trading culture) constituting local uniqueness and; (2) make use of flexible locations for traffic and rudimentary transport. Therefore, the major planning strategy enhancing cultural knowledge as well as upgrading infrastructural quality and facilities is proposed accordingly in order to properly overcome meeting phenomena in order to improve quality of life in the Ancient Quarter – the one of National heritage sites.
Renovation and Promotion of the Value of the ancient “Intersection” land within the City
Tôn Tạo và Phát Huy giá trị vùng đất “Giao thoa” cổ trong thành phố (Kỳ.1)
(Tạp chí Xây dựng, số 12/2002; ISSN 0866-8762, trang 12-15)
“… Sự xuống cấp hay sự biến đổi của một tài sản thuộc di sản văn hóa hay tự nhiên, là một sự làm nghèo nàn di sản của tất cả các dân tộc trên thế giới …” (UNESCO, 1972)
Đã từ lâu con người nhận thấy rằng sự tồn tại của di sản là những minh chứng quan trọng lịch sử- văn hóa- tôn giáo qua quá trình tiến hóa của mỗi dân tộc ở từng giai đoạn lịch sử. Đất nước ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Khi đất nước giải phóng, non sông thu về một mối, thì những quần thể di tích, di sản đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, điển hình là miền Bắc có khu phố cổ Hà Nội, Cổ Loa, các làng nghề truyền thống; miền Trung có kinh thành Huế, lăng tẩm triều Nguyễn, Hội An, thánh địa Mỹ Sơn… Chúng ta đã cùng bạn bè quốc tế khám phá ra những dấu ấn của ông cha mà không ít trong số đó có giá trị tầm cỡ khu vực và thế giới. Ngày nay, ở những nước đang phát triển như chúng ta, quá trình đô thị hóa đang nảy sinh những “áp lực” mang tính tiêu cực, ảnh hưởng đến các di sản, di tích hay không gian có giá trị một cách nghiêm trọng. Hậu quả là di tích bị đe dọa và xâm hại, đặc biệt là với những giá trị to lớn như trong lòng thành phố Huế.
- Đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh trong lòng thành phố
Gia Hội- Chợ Dinh chính là một vùng như vậy, ẩn mình trong quần thể di tích cố đô Huế- nơi đã từng tập trung, hội tụ những tinh hoa- tài năng của đất nước qua hàng thế kỷ và sáng tạo nên nhiều công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu và đặc trưng qua các thời kỳ thăng trầm của đất nước. Với những đặc điểm là kinh đô cuối cùng của triều đại quân chủ Việt Nam thì Huế nói chung và Gia Hội- Chợ Dinh nói riêng, còn lưu giữ khá nhiều công trình, di tích mang giá trị nghệ thuật lớn trong và ngoài kinh thành. Lịch sử đã khẳng định sự hình thành và phát triển khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh ngay từ nửa đầu thế kỷ 19. Khi phố cổ Bao Vinh- thương cảng Thanh Hà (giai đoạn cuối TK 16 tới đầu TK 17) dần lụi tàn, và bên kia Đông Ba là sự phát triển của kinh Thành Huế (vàođầuTK 18), thìđô thị cổ này dần lan lên phía Gia Hội (cuối TK 18) và tồn tại đến ngày nay. Cho nên, Gia Hội- Chợ Dinh không những còn phảng phất nhiều hình ảnh thời kỳ ấy giữa Bao Vinh và Kinh Thành Huế mà con lưu giữ hàng trăm di tích của người Hoa, của các ông Hoàng- bà Chúa (có tên trong sử sách), người Nhật, Ấn Độ và các nhân vật lịch sử nổi tiếng một thời.
Đặc biệt, cái tên Gia Hội do chính vua Minh Mạng đặt vào năm 1837. Thời kỳ này Gia Hội nằm trên hòn đảo được bao bọc chung quanh bởi dòng sông Hương thơ mộng và sông Đông Ba nổi tiếng. Đường Chi Lăng ngày nay mà dân thường gọi là đường Gia Hội, vốn xưa có tên là phố Chợ Dinh hay Dinh Thị Phố. Giờ đây, Gia Hội- Chợ Dinh kéo dài từ cầu Gia Hội đến cầu Đông Ba trải dài trên địa phận hành chính 3 phường: Phú Cát, Phú Hiệp và Phú Hậu của thành phố Huế với diện tích khoảng 70ha.
Do vậy, mà Gia Hội- Chợ Dinh đã trở thành vùng đất “giao thoa” lịch sử và việc bảo tồn đô thị cổ này sẽ góp phần làmđậm nét những dấuấn lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Thuận Hóa- Phú Xuân- Huế, đồng thời khai thác hiệu quả những giá trị “vật thể- phi vật thể” theo phương pháp khoa học, làm động lực phát triển kinh tế- xã hội và công nghiệp du lịch trong giai đoạn mới của đất nước.

Chiêu Ứng Từ- Đường Chi Lăng
(Còn nữa)
- Kỳ 2. Định hướng bảo tồn khu đô thị cổ Gia Hội- Chợ Dinh
- Kỳ 3. Bảo tồn những giá trị “vật thể- phi vật thể”
- Kỳ 4. Thiết kế phát triển cho Gia Hội- Chợ Dinh trong môi trường đô thị hóa (1-Hạt nhân bảo tồn; 2- Cụm bảo tồn lồng ghép phát triển; 3- Mảng bảo tồn phát triển bền vững)
Affordances of Heritage Environment: A Conservation Approach to Hanoi Ancient Quarter in Vietnam
Tuesday, 24 April 2007
3:00 – 4:00 pm
Centre for Advanced Studies in Architecture
Department of Architecture
National University of Singapore
Abstract
Heritage conservation plays an important role above all others in rapidly developing cities, towns and quarters to connect the past with the present as well as protect our roots, historically, culturally, architecturally, socially and so forth. Value of conservation of built environments has been acknowledged and illustrated through numerous instances mostly in developed countries (United Kingdom, Canada, Japan and Singapore…) beneath public and private interest and support. Seemingly, this process, at developing countries, is not easy-going with restoring and rehabilitating historic and ancient quarters to which governments pay attention but lacking necessary capabilities for, whilst other resources, critically, are available inside local communities themselves for improving living conditions by demolishing old constructions (Malacca and Hanoi…) to build up new modern ones relatively.
In recent years, community involvement to preserve and develop Hanoi Ancient Quarter is still a controversial issue beyond seriously worrying conditions of the built environment, urban elements and remaining heritages. The visible reasons, which could be explainable, are the Quarter’s attractiveness involving people in economic, trading activities more than protecting, retaining its cultural and historic heritage values as their behaviors, actions toward perceived spaces and functional properties of the built environment through reciprocal relationships between heritage environment and users.
The aim of this paper, using J. Gibson’s “affordance” term, is to examine significant characteristics of the 36 Old Streets Quarter which support users’ actions, behaviors for urban and architectural preservation works, in other words, conservational potential affordances (CPAs) covering various sub-affordance levels (perceiving, utilizing, sharing (Kytta, 2002: 109) and so forth), as my argument, through social activities that have never been done before. To response to these within outdoor and partly indoor (the sharing spaces) context, semi-structured and key informant (informal) interviews, participant- observation and behavior mapping methods are used to collect qualitative data to explore different affordances of residential blocks- basic heritage units of the Ancient Quarter. The main factual problems, regrettably, are misperceiving and misuse of affordances of the heritage environments, causing consequences as captured today.
After data analysis, a CPAs profile will be constructive to suggest potentiality and availability of affordances of the residential block and its distribution as well. Then, behavior schemata will also figure out social activities regarding use of urban layouts and objects, which constituted the past and present functional properties of 36 Old Streets Quarter. Finally, a heritage conservation program, supposedly, will be implemented to guide people to perceive and use the affordances to gradually adjust presently perceived environments so as to lead to appropriate rehabilitative actions to foster identity and vibrancy of this cultural heritage at level- community initiative.
A Schema for the Conservation of Tube-Houses (Hanoi, Vietnam)
Ngo Minh Hung and Wong Yunn Chii
(Full paper- Presented in: CONSERVATION IN CHANGING SOCIETIES: Heritage development- International Conference 2006, Lueven, Belgium)
![]()
Abstract
The city of Hanoi is celebrating its 1000th anniversary in 2010. It is an ancient city with a structure based on both original Vietnamese and French colonial architecture. The tube-house, an ubiquitous typology in its urban context, is a vital built heritage that has been impacted by urbanization, socio-economic changes, and high population density. These changes affected both its architecture and housing function. There are no successful conservation projects of the tube houses and their precincts. This paper proposes schema, as a set of conservation strategies, for this traditional house typology based on its architectural features, urban and social function and land use. It argues that for a sustainable urban development that would retain the character of the city, a staged approach based on community participation and the clarification of the “Inside-to-Outside” intervention is required.
Management Model for Raising Environment Quality in Ancient Streets of Hanoi
Mô Hình Quản Lý nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môi trường Phố Cổ Hà Nội (Kỳ 1.)
(Tạp Chí Xây Dựng- số 6/2002, ISSN 0866-8762, trang 42-45)
Hà Nội là thành phố có nhiều di sản văn hóa phản ánh nghìn năm lịch sử. Khu phố cổ- cái nôi của Hà Nội ngày nay – nơi gìn giữ kiến trúc truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc… đã và đang thực hiện vai trò quan trong với các hoạt động kinh tế, thương mại đồng thời còn là trung tâm du lịch.
Từ khi có chính sáchđổi mới, quá trìnhđô thị hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, là nguyên nhân chính cho sự biến đổi môi trường. Mặt khác, hệ thống thể chế chưa bắt kịp tiến trình đô thị hóa nên phần nào ảnh hưởngđến kiến trúc cảnh quan chung của phố cổ và ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng cuộc sốngđô thị. Cùng với cả nước, Hà Nôi đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH, kinh tế- xã hội phát triển, cuộc sống dần được cải thiện, công tác quản lý càng phải được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng môi trương phố cổ.
Không gian kiến trúc cảnh quan và vấn đề tồn tại
Khu phố cổ nằm trong ranh giới hành chính của quận Hoàn Kiếm, diện tích khoảng 100ha thuộc 10 phường với tồng số dân lên tới 171.000 người (1998) và mật độ trên 32.000 người/km2, trong đó có nơi tập trung trên 1200 người/ha với diện tích 3m2/người. Hoạtđộng buôn bán, kinh doanh và nhu cầu cuộc sống đã lấn át phần lớn các không gian xanh còn lại của phố cổ bởi nó gây cản trở ít nhiều việc buôn bán và kiến trúc dần biến dạng. Trong khi đó, đất ở đây ngày càng có giá trị, thậm chí gần đây còn cao hơn một số thành phố lớn ở Châu Âu.
Quanh phố cổ hiện còn tồn tại một số không gian xanh giữa quần thể kiến trúc pha tạp lộn xộn với diện tích- mật độ rất thấp. Ở đây chỉ còn một lượng nhỏ cây xanh được trồng bên hè phố chật hẹp … như phường Hàng Bông chí có 142 cây to/ 7000 người. Phần lớn sân vườn trong ngôi nhà ống truyền thống đều bị xâm chiếm, sinh hoạt cộng đồng, lối sống văn hóa cungc như hệ thống cơ sở hạ tầng (cấp- thoát nước, VSMT, thu gom rác thải…) bị phá vỡ.
Ý nghĩa của không gian kiến trúc cảnh quan vô cung quan trọng, bởi giá trị của nó với cuộc sống: làm sạch không khí,điều hòa vi khí hậu, giảm tiếng ồn, tạo cảnh quan và là dấu ấn phản ánh rõ nét quá trình phát triển trải qua từng thời kỳ củađô thị.
Thực tế cho thấy, không gian kiến trúc cảnh quan khu vực phố cổ đang dần biến mất dưới hình thức này hay hình thức khác. Vì vậy, những không gian này cần phải được bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị, nhằm cải thiện môi trường phố cổ, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế- xã hội cung như thu hút khách du lịch trong giai đoạn phát triển sắp tới.
- Không gian kiến trúc cảnh quan trong ngôi nhà ống
Trong lịch sử phát triển, thì mỗi ngôi nhà ống gồm từ 2 đến 3 sân trong hay con gọi “tiểu môi trường cảnh quan” với mục đích phục vụ nghỉ ngơi- trồng cây cảnh, bài trí nghệ thuật theo phong cách riêng của chủ nhà. Nơi này thường được kết hợp với các phòng chức năng và khu phụ (bếp, nhà kho và khu vệ sinh), nó đảm bảo điều kiện sống tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm- nhiệt đới. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết những chức năng này đã bị chuyển đổi, gây ra những vấn đề phức tạp. Việc khôi phục các không gian này thực sự cần thiết bởi nó sẽ đảm bảo: (1) thông thoáng và lấyánh sáng tự nhiên; (2) cho hoạtđộng nghỉ ngơi, thư giãn; (3) cho sự phát triển và cải tạo cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Do đó,đây sẽ là thành phần chính cho hệ thống môi trường kiến trúc cảnh quan hoàn chỉnh của phố cổ trong tương lai.
- Không gian kiến trúc cảnh quan phố cổ
Dựa trên số liệu thống kê chưa đầy đủ và sự phân tích giữa bản đồ ghi chép năm 1873 với thời gian gần đây, thì môi trường cảnh quan phố cổ giảm đi nhiều. Trong tình hình hiện nay, phố cổ chỉ còn lưu giữ được một phần rất nhỏ thảm thực vật xanh như: vườn hoa Vạn Xuân (Hàng đậu), Phùng Hưng, Cửa Nam, Nam cầu Long Biên và đặc biệt là không gian kiến trúc cảnh quan hồ Hoàn Kiếm. Điều này cho thấy, đây là những không gian không thể thiếu trong cấu trúcđô thị của Hà Nội nói chung và của phố cổ nói riêng, bởi qua đó thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa hoạt động sống hàng ngày với nhu cầu nghỉ ngơi và vui chơi của cộng đồng. Song vấn đề hiện nay là khu vực xanh này quá nghèo nàn chưa đủ hấp dẫn người sử dụng, nên chưa phát huy tối đa khả năng đối với lối sống đô thị hiện đại.
Vậy, liệu có thể phát huy không gian kiến trúc cảnh quan trong phố cổ hay không?
Qua khảo sát, một phần diện tích trong lõi các ô phố hiện chưa được sử dụng đúng mục đích hoặc bỏ hoang. Đã có nhiều dự án đề xuất cải tạo diện tích này thành nơi phục vụ cho sinh hoạt cộngđồng. Song hầu hết đến nay vẫn chưa trở thành hiện thực?. Do vậy, để phát huy tối đa hiệu quả không gian kiến trúc cảnh quan, nên chăng cần phải có cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích mọi nguồn lực của cộng đồng vào công tác bảo tồn trong thời gian tới.
- Cơ chế chính sách trong quản lý môi trường kiến trúc cảnh quan
Do tính chất đặc biệt của phố cổ trong tiến trình phát triển đô thị, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy về quản lý bảo tồn như: QĐ 70 BXD/KT-QH (1995); QĐ số 45/ QĐ-UB (1999); QĐ 1127- BXD/QLN (1994); QĐ 91/CP (1994) và QĐ 48/CP (1997)… bên cạnh những mặt tích cực của luật pháp là những hạn chế có tác động tiêu cực đến cấu trúc phố cổ và vai trò không gian kiến trúc cảnh quan chưa được chi tiết hóa. Sự thay đổi môi trường pháp quy cũng gây ra không ít khó khăn trong thực hiện quản lý.
Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức để thực hiện cho công tác này còn nhiều vấn đề phải bàn. Bản thân người dân khó có thể phân biệt được cấp nào có thẩm quyền quản lý, trong khi rất nhiều cơ quan cùng tham gia giải quyết vấn đề cộng đồng. Thực tế chỉ ra rằng, những không gian cảnh quan vẫn tiếp tục bị lấn chiếm và sử dụng sai mục đích. Vậy thì nguyên nhân chính ở đâu? để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phân tích SWOT sẽ là một công cụ hiệu quả có thể xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa trong công tác quản lý kiến trúc cảnh quan phố cổ hiện nay.
Đối mặt với các vấn đề đô thị hóa thì sự cần thiết bảo tồn phố cổ lại càng cấp bách. PGS. TS Willi Zimmermann (AIT, 2001) thốt lên rằng: “Nếu không có biện pháp cấp bách, thì Hà Nội sẽ mất đi cội rễ của chính mình theo thời gian, mà qua đó thế giới biết đến các bạn”. Điều này nói lên không gian truyền thống nói chung, di sản văn hóa- lịch sử- tôn giáo đã và đang bị ảnh hưởng xấu bởi hoạt động kinh tế, phát triển công nghiệp du lịch và dịch vụ. Sự suy thoái môi trưởng bởi: tiếng ồn, ô nhiễm không khí- nước- chất thải rắn gây mất vệ sinh chung là mối đe dọa lớn đối với sức khoe cộng đồng, đặc biệt những cư dân thu nhập thấp trong lõi phố cổ. Nguyên nhân chung do: mật độ dân cư tập trung lớn, chiều cao trung bình thấp, mật độ xây dựng dày đặc dẫnđến phần lớn đất đai trong khu vực trở thành diện tích sinh sống và buôn bán, công trình kiến trúc xuống cấp trầm trọng đi đôi với cơ sở hạ tầng thấp kém và không gian kiến trúc cảnh quan bị hủy hoại… Thậm chí trong rất nhiềuô phố không còn tồn tại lõi xanh nữa.





